Chương 1: Những nội dung cơ bản về nợ xấu và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu. Chương 3: Giải pháp tăng cường xử lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu. 8 CHƢƠNG 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
NỢ XẤU VÀ PHÂN LOẠI NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. K á n ệm n u Tín dụng là một hoạt động luôn tiềm n nhiều rủi ro, hoạt động tín dụng còn được xem như một nghiệp vụ quản trị rủi ro để sinh lợi trong kinh doanh ngân hàng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng nhưng tựu trung lại rủi ro tín dụng có thể được hiểu là việc ngân hàng không thể thu hồi được toàn bộ gốc và lãi khi khoản vay đến hạn. Và khi một khoản vay không thể thu hồi hay có nguy cơ không thể thu hồi nợ gốc và lãi thì người ta gọi đây là một khoản nợ xấu.
* Theo Ngân hàng Trung ương Liên minh châu Âu, nợ xấu trong các NHTM bao gồm: - Nợ không thể thu hồi được: + Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường t nợ. + Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ. + Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ. + Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ.
- Nợ có thể thu không thanh toán đầy đ cho ngân hàng. Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ. Người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để trả lãi hoặc gốc có thời hạn thanh toán, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ s không thể thu hồi đầy đủ như: + Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ khoản nợ. + Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nợ nhưng không đền bù được trong thời gian thỏa thuận.
9 + Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế chấp ở ngân hàng không được chấp nhận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợ không thể trả nợ ngân hàng đầy đủ. + Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ. - Theo định nghĩa nợ xấu c a Phòng thống kê – Liên hiệp quốc: Một khoản nợ xấu được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả lãi t 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc trả chậm theo thỏa thuận; hoặc các khoản thanh toán đã quá hạn 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay s được thanh toán đầy đủ. Về cơ bản, nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ.
- Theo định nghĩa c a Việt Nam: Theo thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 của Thống đốc NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì nợ xấu được định nghĩa như sau: Nợ xấu là nợ xấu nội bảng, gồm những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chu n , nhóm 4 (nợ nghi ngờ , nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn. Nợ xấu theo định nghĩa của Việt Nam cũng được xác định dựa theo 2 yếu tố: (i đã quá hạn trên 90 ngày và (ii khả năng trả nợ đáng lo ngại (NHNN, 2021). Qua định nghĩa về nợ xấu của các tổ chức trên ta có thể hiểu khái quát nợ xấu là các khoản nợ mà khách hàng không trả gốc và lãi đúng hạn hoặc không trả nợ như đã cam kết dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng. - Bản chất c a nợ xấu: Việc hoàn trả đầy đủ khoản nợ gốc và lãi cho ngân hàng đến thời điểm đáo hạn là hành động hoàn tất mối quan hệ tín dụng hoàn hảo giữa ngân hàng và khách hàng.
Như vậy, nợ xấu trong hoạt động tín dụng NHTM là hiện tượng phát sinh t mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi người đi vay (khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàng đúng hạn. 10 Nợ xấu nói chung được xem như một dấu hiệu của vấn đề rủi ro tiềm n. Tuy nhiên, thực tế một khoản nợ xấu thì cho biết rất ít vấn đề, để xác định bản chất vấn đề phải tìm hiểu được nguyên nhân của khoản nợ đó. Nếu khoản nợ xấu là một biểu hiện của việc khách hàng không muốn hoặc không có khả năng hoàn trả thì có thể khoản vay đã có vấn đề nghiêm trọng và có nguy cơ không cứu vãn được.
Nếu khoản nợ chỉ hình thành do việc tiêu thụ hàng hóa hoặc thu hồi các khoản phải thu chậm hơn dự tính hoặc do việc chậm trễ không tính trước được trong việc chuyển t khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ trên thị trường, thì vấn đề chưa đến mức nghiêm trọng. Bản chất của nợ xấu gắn liền với bản chất của mối quan hệ tín dụng – đây là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có quan hệ với nhau thông qua sự vận động của giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ và hàng hóa t người cho vay chuyển sang người đi vay và sau một thời gian nhất định quay về với người cho vay với giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Do đó, tín dụng được tạo nên t 3 yếu tố chính là: lòng tin, thời hạn của quan hệ tín dụng và sự hứa hẹn hoàn trả. Người ta chỉ cho vay khi người ta tin rằng việc sử dụng giá trị đó s thu được lượng giá trị lớn hơn, có tính hiệu quả hơn sau một thời gian nhất định.
Như vậy, có thể thấy bản chất nợ xấu là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo, trước hết vì nó vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính thời hạn, sau nữa nó vi phạm đến đặc trưng thứ hai là tính hoàn trả đầy đủ, gây nên sự đổ vỡ lòng tin của người cung cấp tín dụng đối với khách hàng nhận tín dụng. C ỉ t êu đo lườn n u Theo định nghĩa về nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu tại Điều 3 Thông tư 11/2021/TT- NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 30 tháng 7 năm 2021 thì các chỉ tiêu đo lường nợ xấu có thể được xác định như sau: - Tổng số nợ xấu Tổng nợ xấu không phải phát sinh tại một thời điểm mà nó được tích lũy trong một khoảng thời gian dài, phản ánh chung giá trị tuyệt đối của toàn bộ nợ xấu 11 của ngân hàng, nhưng không phản ảnh được trong tổng dư nợ đó có bao nhiêu là nợ không có khả năng thu hồi và bao nhiêu là nợ có khả năng thu hồi. Tuy nhiên, nếu tổng nợ xấu của ngân hàng gia tăng trong thời gian dài chứng tỏ một điều rằng NHTM yếu kém về quản trị rủi ro nói chung và kết quả xử lý nợ xấu là chưa được hiệu quả, bên cạnh đó nó cho biết chính sách minh bạch hóa quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng. Nếu tổng số nợ xấu của NHTM cao, gia tăng phản ánh một điều rằng, NHTM đã và đang chủ trương minh bạch hóa quan hệ tín dụng, thông tin tài chính và ngược lại (NHNN, 2021).
- Tỷ lệ Tổng nợ xấu/Tổng dư nợ Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ đánh giá hiệu quả chất lượng tín dụng của TCTD. Tổng nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = Tổng dư nợ Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đơn vị tiền tệ cho vay thì có bao nhiêu đơn vị tiền tệ mà Ngân hàng xác định khó có khả năng thu hồi hoặc không thu hồi được đúng hạn. Tỷ lệ này càng cao thì nợ quá hạn t 90 ngày đến trên 360 ngày của ngân hàng càng lớn và rủi ro tín dụng càng cao. Theo quy định của NHNN, nêu tỷ lệ này lớn hơn 7% thì Ngân hàng được xem là có hoạt động tín dụng yếu kém.
Nếu tỷ lệ này nằm trong giới hạn t 3% đến 5% thì hoạt động Ngân hàng nằm trong giới hạn cho phép của NHNN. Nếu tỷ lệ này nhỏ hơn 3% thì Ngân hàng được đánh giá có nghiệp vụ tín dụng tốt, các khoản cho vay an toàn. Chính vì thế, hàng năm việc đánh giá mức giảm tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng khi tỷ lệ này được thu hẹp dần là một yếu tố cho thấy việc phòng ng a nợ xấu của Ngân hàng có đang được cải thiện hay không. - Tỷ lệ nợ xấu theo nhóm nợ + Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chu n bao gồm: Nợ quá hạn t 91 ngày đến 180 ngày; Nợ gia hạn nợ lần đầu; Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi 12 đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra.
+ Tỷ lệ nợ xấu theo nhóm 3 Tổng dư nợ xấu nhóm 3 Tỷ lệ nợ xấu nhóm 3 = Tổng dư nợ + Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ bao gồm: Nợ quá hạn t 181 ngày đến 360 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được.