Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hoạt động sáp nhập, mua bán trong lĩnh vực ngân hàng 4 Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Hoạt động mua bán, sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới. Chương 4: Kinh nghiệm quốc tế từ hoạt động mua bán, sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng và một sô hàm ý đôi với việt nam CHUONG 1. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU VÀ CƠ SỞ LY LUAN VE HOAT DONG SAP NHAP, MUA BAN TRONG LINH VUC NGAN HANG 1. Téng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tai 1.
Nội dung tong quan 1.L Các nghiên cứu liên quan dưới góc độ lý luận về sáp nhập, mua bán Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về M&A. Hầu hết các tài liệu thường đề cập dưới góc độ hướng dẫn tiến hành hoạt động M&A. Trong đó có các cuốn sách đã được dịch ra tiếng Việt và xuất bản tại Việt Nam dưới đây.S, “M&A Mua lại & Sap nhập căn bản: Các bước quan trọng trong quá trình mua bán doanh nghiệp và đầu tư”, Nhà xuất bản Tri Thức năm 2009 [6]. Cuốn sách cung cấp một tầm nhìn và kiến thức căn bản về những bước quan trọng và đặc tính của hầu hết các vụ giao dịch M&A, các bước căn bản để tiến hành một thương vụ M&A.
Những kiến thức trong cuốn sách này cung cấp một nền tang giúp hiểu được M&A để từ đó có thé đi chuyên sâu về những lĩnh vực chuyên biệt. Scott Moeller va Chris Brady, “M&A Mua lại & Sáp nhập thông minh: Kim chỉ nam trên trận đồ sáp nhập và mua lại”, Nhà xuất bản Tri Thức năm 2009 [13]. Cuốn sách bàn luận về cách thức tổ chức và thực thi một kế hoạch M&A hiệu quả thông qua việc sử dụng các phương pháp tình báo doanh nghiệp., “Cam nang hướng dẫn M&A Mua lại & sáp nhập: Các công cụ hỗ trợ quy trình hợp nhất ở mọi cấp độ”, Nhà xuất bản tông hợp thành phó Hồ Chí Minh năm 2009 [7]. Các tác giả đã đưa ra những công cụ, khuôn mẫu và tiến trình gắn kết hai tổ chức một cách hiệu quả hơn từ kinh nghiệm của chính các tác giả.
Trong đó, các tác giả đã tiến hành nghiên cứu về tinh trang hợp nhất M&A, những kết quả các ví dụ điển hình của các công ty quản lý hợp nhất 6 thành công cùng với những thảo luận về cách ứng phó với những tình huống trong việc mua lại và sáp nhập, trong đó chủ yếu là các tình huống do qua trình hợp nhất chưa được dứt điểm hoặc do không được quản lý tốt.A, “Mua lại và Sáp nhập từ A đến Z”, Nhà xuất bản Tri thức năm 2009 [14]. Cuốn sách nghiên cứu các khái niệm và thuật ngữ cơ bản trong M&A, đồng thời đưa ra những nguyên tắc cơ bản, các quy trình thực hiện, kỹ thuật sử dụng trong M&A. Ngoài ra, các tác giả còn đề cập đến những rủi ro và cam bay tiềm ẩn trong các vụ mua lại và sáp nhập, những thách thức sau giao dịch và các lựa chọn thay thế M&A. Xét trên góc độ nghiên cứu về M&A, Luận văn đánh giá cao các công trình nghiên cứu như: Blunck B., “Creating and Appropriating Value from Mergers and Acquisitions — A Merger Wave Perspective”, Luận văn tiến sỹ tại Dai học Aarhus năm 2008 [24].
Qua phân tích nguyên nhân và kết quả của hoạt động M&A, tác giả tim ra hai nguyên nhân tạo làn sóng mua lại và sáp nhập. Thứ nhất, sự tồn tại của làn sóng sáp nhập một phần xuất phát từ các yếu tố riêng biệt trong các ngành và đặc điểm của kinh tế toàn cầu. Cụ thể là do anh hưởng của đặc điểm từng ngành và nền kinh tế dẫn đến các trào lưu sáp nhập trong ngành và nền kinh tế đó. Thêm vào đó các công ty có đặc điểm chung về ngành công nghiệp liên kết, cách thức tổ chức và sở hữu công ty có thé chia sẻ cách thức điều khiển và động cơ tiềm ân cho sáp nhập.
Thứ hai, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các vụ sáp nhập và mua lại ở các cấp độ công ty và nền kinh tế cho thấy các vụ sáp nhập công ty được sử dụng như một công cụ trong cuộc chiến cạnh tranh với các công ty đối thủ. Min Hang, “2+2=5: Pursuing M&A Synergy Realization in China”, luận văn thạc sỹ tại trường Dai học Lund năm 2002 [41]. Tác gia đã kết hợp yếu tố kinh doanh và pháp luật liên quan đến vấn đề M&A với nhau và kết hợp các trường hợp thực nghiệm, để khám phá cách thức hiệu quả mà Trung Quốc nhận được sức mạnh tổng hợp 7 của M&A và giải quyết các van đề hội nhập M&A tại Trung Quốc trong thực hành và theo đuổi sức mạnh tổng hợp với sự nỗ lực cả từ quan điểm quản lý pháp lý. Trong lĩnh vực ngân hàng, Demirgic-Kunt, Levine, và Min (1998) “Opening to Foreign Banks: Issues of Stability, Efficiency” [28] tập trung nghiên cứu lan sóng sáp nhập ngân hang ở Mỹ, xuyên biên giới giữa các nền kinh tế phát triển.
Claessens và Jansen (2000) “The Internationalization of Financial Services: Issues and Lessons for DevelopingCountries”, Clark, Cull, Peria [27] va Sanchez (2001) “Foreign Bank Entry: Experience, Implications for Developing Countries, and Agenda for Further Research” [46] nghiên cứu việc sáp nhập qua biên giới của các nước đang phat triển. Các nghiên cứu dựa trên hai giả thuyết: đầu tiên, đó là một nền tảng "kinh tế vi mô", bao gồm lợi thế nhờ quy mô, việc bãi bỏ các quy định, và những thúc đây do kỹ thuật thay đổi, là nền tảng cho làn sóng sáp nhập tài chính toàn cầu; thứ hai, làn sóng sáp nhập của Mỹ tạo nên mô hình toàn cầu. Các liên kết giữa các vụ sáp nhập, hiệu quả và kinh nghiệm của Mỹ được thể hiện qua trường hợp của các ngân hàng lớn của Mỹ, vì sau khi trải qua hợp nhất liên tục từ năm 1981, các ngân hàng này có lợi hơn so với các ngân hàng lớn ở các khu vực khác. Thực tế là các ngân hàng lớn nhất Mỹ gần đây đã tăng quy mô tương đối so với thị trường Mỹ, trong khi các ngân hàng lớn nhất ở khu vực, quốc gia khác lại nhỏ hơn so với thị trường của các quốc gia đó.
Do đó, các tác giả cho răng mua lại và sáp nhập có thể dẫn đến tăng quy mô, hiệu quả và năng lực sức cạnh tranh. Gary (2002) trong bài nghiên cứu “The global bank merger wave: Implication for developing country” [30] xem xét lại nguyên nhân và tac động cua làn sóng sáp nhập ngân hàng toàn cầu, đặc biệt là tại các nền kinh tế đang phát triển. Tác giả cho rằng các vụ sáp nhập trong lĩnh vực tài chính có thể do nhu cầu tìm kiếm khách hàng tiêu dùng, hoặc tìm kiêm khách hàng sản xuât, hoặc cả hai. 8 Bài nghiên cứu của Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức (2007) “Thâu tóm và hợp nhất: nhìn từ khía cạnh quản trị công ty” trên Tạp chí Quản lý Kinh tế, chủ yếu giới thiệu một số khái niệm cơ bản liên quan đến hoạt động M&A dưới góc độ lý thuyết về quản trị công ty [15].
Nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh khái niệm M&A còn tương đối mới mẻ và đang trở thành một chủ đề nóng trong nước ở thời kỳ cơn sốt của thị trường tài chính ngân hàng và đầu tư nước ngoài năm 2007. Nghiên cứu này phần nào đáp ứng được nhu cầu của người đọc tìm hiểu những khái niệm ban đầu về M&A, tuy nhiên phạm vi và độ sâu của nghiên cứu này còn hạn chế. Báo cáo “Tập trung kinh tế ở Việt Nam: hiện trạng và dự báo” của Cục quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thương (2008) [16] là một nghiên cứu khá đầy đủ và nghiêm túc về thực trạng hoạt động M&A ở Việt Nam, khung khuôn khổ pháp lý, những tác động có thể có của M&A đối với tập trung kinh tế. Đáng chú ý, báo cáo có những kiến nghị tư vấn chính sách tương đối cụ thể về xây dựng thể chế điều tiết hoạt động M&A ở nước ta.
Qua nghiên cứu này, Cục quan lý cạnh tranh đã thé hiện phan nào vai trò tiên phong trong hệ thống các thé chế quan ly nhà nước trên lĩnh này. Tuy nhiên, báo cáo của Cục Quan lý cạnh tranh chỉ bao quát những vấn đề liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan này. Tại Việt Nam, “Diễn đàn mua bán sáp nhập và kết nối đầu tư hàng đầu Việt Nam” (http://www.com/) được Bộ Kế hoạch và Đầu tư đứng ra tổ chức hang năm nhằm đánh giá các thương vụ trong năm, doanh sé, kết quả M&A. Bên cạnh các nghiên cứu khá phong phú về M&A ngân hàng trên thế giới, nghiên cứu về M&A ngân hàng ở Việt Nam và đi sâu cụ thể về các yếu tố tác động vào sự thành công của việc mua lại và sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam hau như tất ít.
Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào tình hình hiện trạng của hệ thống ngân hàng Việt Nam, và đưa ra đề xuất M&A như là một biện pháp hữu hiệu dé nâng cao hiệu quả hoạt động cua các ngân hàng nói riêng và của nền kinh tế nói chung.1 Các nghiên cứu liên quan về sáp nhập, mua bán trong lĩnh vực ngân hang tại một số nước trên thé giới Thời gian trong và sau khủng hoảng tài chính thế giới 2007-2009, xuất hiện nhiều bài nghiên cứu về tác động của khủng hoảng lên M&A ngân hàng, đặc biệt là của châu Âu và My. Nhiéu tac giả nhận định khủng hoảng là một cơ hội tốt cho hoạt động M&A ngân hàng (Berger và Bouwman, 2009: Acharya, Shin và Yourlmazer, 2011, Beltratti và Paladino, 2013). Tuy nhiên mức độ rủi ro cũng tăng lên do các áp lực bên ngoài doanh nghiệp như cải cách thể chế và các quy định kiểm soát từ chính phủ (Group of Thirty, 2009). Ở Việt Nam, hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung vào mua lại và sáp nhập nói chung.
Pricewater House (2009) đã đưa ra báo cáo về tình hình mua lại và sáp nhập ở Việt Nam và đưa ra nhận định triển vọng năm 2010. Tháng 4/2010 đã diễn ra Diễn đàn mua bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A) Việt Nam 2010 với chủ đề “Cùng hướng tới những thương vụ thành công”. Tại diễn đàn, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số nhận định như: Theo ông Andy Hồ, Giám đốc đầu tư Quỹ Vina Capital, hiện có khoảng 50% thương vụ sáp nhập là không thành công do không tìm được tiếng nói chung trong định giá doanh nghiệp, trong việc nam quyền điều hành, sắp xếp lại nhân sự.