Chương 1: Khái niệm tảo hôn và pháp luật hiện hành về giải quyết vấn đề tảo hôn. Chương 2: Thực trạng tảo hôn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thực tiễn giải quyết và một số kiến nghị. KHÁI NIỆM TẢO HÔN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TẢO HÔN 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TẢO HÔN 1.
Khái niệm tảo hôn Tảo hôn là thuật ngữ được sử dụng không chỉ ở Việt Nam mà còn trong nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ hành vi kết hôn khi một hoặc cả hai bên chưa đủ độ tuổi pháp lý theo quy định của pháp luật. Tảo hôn chủ yếu xảy ra ở những nơi có phong tục truyền thống lâu đời, đặc biệt là tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hoặc các cộng đồng dân tộc thiểu số, nơi các quy định về tuổi kết hôn không được tuân thủ nghiêm ngặt. Thuật ngữ “tảo hôn” được biết đến với các tên gọi khác mang ý nghĩa mô tả tương tự như “kết hôn trẻ em”, “kết hôn sớm”,… Trên thế giới, Ủy ban quyền trẻ em định nghĩa kết hôn trẻ em là tập tục kết hôn trong đó ít nhất một bên chưa đủ 18 tuổi1. Ủy ban này khẳng định rằng độ tuổi kết hôn tối thiểu cần phải là 18 tuổi đối với cả nam và nữ và yêu cầu các quốc gia quy định độ tuổi này là chuẩn mực pháp lý, không phụ thuộc vào sự đồng ý của cha mẹ hay các yếu tố khác.
Quy định này nhằm bảo vệ trẻ em khỏi những tác động tiêu cực của việc kết hôn quá sớm, như ảnh hưởng đến sức khỏe, giáo dục, sự phát triển cá nhân và quyền tự do lựa chọn cuộc sống. Các quốc gia cần có trách nhiệm điều chỉnh và thực thi các luật pháp để đảm bảo rằng trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái, không bị áp lực kết hôn trước tuổi trưởng thành, qua đó bảo vệ quyền lợi cơ bản của trẻ em và giúp họ phát triển toàn diện trong một môi trường lành mạnh và an toàn. Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) và Qũy Nhi đồng Liên Hợp quốc (UNICEF) định nghĩa kết hôn trẻ em là “hành vi kết hôn chính thức hoặc sống chung như vợ chồng khi chưa đủ 18 tuổi”2. Như vậy, theo định nghĩa này không chỉ hành vi kết hôn chính thức mà cả việc sống chung như vợ chồng khi chưa đủ 18 tuổi cũng được xem là tảo hôn.
Đây là một cách hiểu rõ ràng và đầy đủ bởi trên thực tế, hầu hết các cặp đôi kết hôn trước tuổi luật định đều về chung sống với nhau như vợ chồng chứ không đăng ký kết hôn. Nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng được hiểu là việc nam nữ có quan hệ qua lại, sinh hoạt, chia sẻ tình cảm, vật chất, kể cả tình dục một cách thường xuyên, công khai, mặc nhiên như sinh hoạt vợ chồng. Kết hôn hoặc sống 1 UNFPA & UNICEF Việt Nam (2018), Báo cáo tóm tắt về kết hôn trẻ em: Chấm dứt kết hôn trẻ em, trao quyền cho trẻ em gái. 2 UNFPA & UNICEF Việt Nam (2018), Báo cáo tóm tắt về kết hôn trẻ em: Chấm dứt kết hôn trẻ em, trao quyền cho trẻ em gái.
15 chung khi chưa đủ 18 tuổi có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng về mặt sức khỏe, giáo dục và quyền lợi của trẻ em, đặc biệt là trong các trường hợp trẻ em phải đối mặt với áp lực và rủi ro lớn khi mang thai hoặc sinh con trong khi chưa sẵn sàng về cả thể chất và tinh thần. Việc hiểu rõ rằng cả hai hành vi này đều là tảo hôn sẽ giúp nhận diện và xử lý vấn đề một cách đầy đủ hơn, đồng thời tăng cường các biện pháp bảo vệ quyền lợi của trẻ em và ngừng tình trạng này. Ở Việt Nam, khái niệm tảo hôn bị ảnh hưởng sâu rộng từ các yếu tố lịch sử, văn hóa, và xã hội, trong đó chế độ phong kiến là một trong những yếu tố lớn góp phần hình thành và duy trì một số tập tục hôn nhân truyền thống. Trong thời kỳ phong kiến, chế độ gia đình và kết hôn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các yếu tố như danh dự gia tộc, sự sắp xếp của cha mẹ, và vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội.
Hôn nhân thường được xem là một công cụ để duy trì quyền lực, danh tiếng và tài sản trong gia đình. Các cuộc hôn nhân này đôi khi được thực hiện từ khi người con gái còn rất nhỏ, thậm chí dưới tuổi trưởng thành, bởi vì xã hội lúc bấy giờ có xu hướng coi trọng các yếu tố như tài sản gia đình và sự liên kết giữa các dòng họ hơn là quyền lợi cá nhân. Tuy nhiên, trong thế kỷ 20 và 21, các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, UNICEF, và UNFPA đã thúc đẩy việc thay đổi nhận thức và cải cách luật pháp để bảo vệ quyền lợi của trẻ em, đặc biệt là quyền không bị ép buộc kết hôn sớm. Việt Nam, như nhiều quốc gia khác, đã bị ảnh hưởng bởi các phong trào này và đã bắt đầu thay đổi dần dần.
Nhà nước Việt Nam đã có những chính sách và pháp luật nghiêm ngặt hơn, như quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu là 18 tuổi cho cả nam và nữ. Vào năm 1991, Việt Nam đã tham gia Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em, và từ đó, việc bảo vệ trẻ em, trong đó có việc ngừng tảo hôn, trở thành một trọng tâm trong chính sách phát triển và luật pháp. Tiếp thu những quy định của pháp luật thế giới về vấn đề tảo hôn, trong Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2000, Việt Nam lần đầu tiên đưa ra khái niệm “tảo hôn”. Cụ thể, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định tảo hôn là việc kết hôn giữa những người chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật3; độ tuổi kết hôn đối với nam là từ hai mươi tuổi trở lên và đối với nữ là từ mười tám tuổi trở lên4.
Việc đưa ra khái niệm cụ thể về tảo hôn đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực thi pháp luật về hạn chế tình trạng tảo hôn. Tuy nhiên, việc quy định độ tuổi kết hôn như trên là không thống nhất với Bộ luật Dân sự (BLDS) và Bộ 3 Xem: Khoản 4 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000. 4 Xem: Khoản 1 Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2000. 16 luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).
Theo BLDS người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên, khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Theo BLTTDS thì đương sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên mới có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Như vậy, nếu cho phép người chưa đủ 18 tuổi kết hôn là không hợp lý, thiếu đồng bộ và làm hạn chế một số quyền của người nữ khi xác lập các giao dịch như quyền yêu cầu ly hôn thì phải có người đại diện. Việc đồng nhất cách tính tuổi của Luật HN&GĐ với các bộ luật khác là điều cần thiết.
Trải qua sự bổ sung và sửa đổi để phù hợp với tình hình phát triển của đất nước, sự hội nhập của quốc tế, Luật HN&GĐ năm 2014 đã có sự giải thích rõ hơn về khái niệm “tảo hôn”, cụ thể khoản 8 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn, theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 8 của Luật này”. Theo quy định trên, ta có thể hiểu, tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng thuộc các trường hợp sau đây: (1) Nam nữ kết hôn trước tuổi luật định; (2) Nam nữ chung sống như vợ chồng trước tuổi luật định. Về độ tuổi kết hôn, Luật HN&GĐ năm 2014 về cơ bản vẫn tiếp tục giữ các quy định về độ tuổi kết hôn, chỉ có sự thay đổi về cách diễn đạt “từ…tuổi trở lên” thành “từ đủ…tuổi trở lên” để tránh gây sự nhầm lẫn trong cách xác định tuổi kết hôn. Cụ thể tại điểm a Khoản 1 Điều 8 quy định: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”.
Đồng thời quy định rõ việc xác lập quan hệ hôn nhân trước độ tuổi theo luật định là hành vi bị cấm: “Cấm các hành vi sau đây: Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn. Chẳng hạn, chị Phạm Thị A sinh ngày 30/03/2003 thì đến ngày 30/03/2021, chị A đã đủ 18 tuổi và từ sau ngày 30/03/2021 trở đi, chị A có quyền kết hôn mà không vi phạm điều kiện về độ tuổi kết hôn luật định. Nếu kết hôn trước thời điểm này sẽ bị coi là tảo hôn. Như vậy, nhìn chung khái niệm “tảo hôn” của Luật HN&GĐ năm 2014 đã có sự hoàn thiện về mặt nội dung, đồng nhất về bản chất của tảo hôn theo cách hiểu của UNFRA, UNICEF đó là đều hướng đến việc kết hôn giữa nam và nữ khi chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh sự đồng nhất với các khái niệm tảo hôn của thế giới, khái niệm tảo hôn của Luật HN&GĐ vẫn có những nét riêng khác biệt để phù hợp với tính chất xã hội, kinh tế,… của đất nước Việt Nam. Cụ thể: Độ tuổi kết hôn mà khoản 8 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 đưa ra thể hiện ý nghĩa tiến bộ, đảm bảo sự phát triển, trường thành về thể chất, tâm sinh lý cho cả nam và nữ trước khi kết hôn. 17 Về mặt sinh học, như chúng ta đã biết một trong những chức năng quan trọng của gia đình là duy trì nòi giống, theo nghiên cứu khoa học cho thấy thì nam từ 16 tuổi nữ từ 13 tuổi trở lên đã có khả năng sinh sản, dân gian ta cũng có câu “nữ thập tam, nam thập lục” để chỉ đến vấn đề độ tuổi của nam và nữ có khả năng sinh đẻ. Tuy nhiên đây chỉ là tuổi chứng minh được nam nữ đã có khả năng sinh đẻ, còn để đảm bảo cho sức khỏe của đứa trẻ khi sinh ra cũng như sức khỏe của cả người mẹ và người bố thì độ tuổi sinh đẻ của nam là từ đủ 20 tuổi trở lên, và nữ là từ đủ 18 tuổi trở lên.
Việc kết hôn sớm, mang thai và sinh đẻ trong lứa tuổi chưa thành niên ảnh hưởng lớn tới sức khỏe bà mẹ, sự phát triển của thai nhi và trẻ sơ sinh5.