CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN VÈ THẺ VÀ NHỮNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ.1 H oạt động kinh doanh thẻ tại N gân hàng thưo’ng mại.1 Tỏng quan về thẻ.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của thẻ. Nhân loại đã trải qua nhiều thời kì phát triển và mỗi một giai đoạn lịch sử lại có một hình thái tiền tệ tưong ứng. Trước đây khi xã hội chưa phát triển người ta dùng những hình thức tiền tệ giản đon như vỏ sò, vỏ hển hay những vật giá trị khác làm vật trao đổi, tiếp đến là việc sử dụng vàng, bạc và tiền giấy làm phương tiện lưu thông và cất trữ. Ngày nay hình thái tiền tệ ngày càng đa dạng về hình thức và chủng loại.
Thẻ-tiền điện tử được coi là phương tiện thanh toán hiện đại nhất thế giới hiện nay, ra đời và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong ngân hàng. Lịch sử hình thành phương thức thanh toán bằng thẻ nói chung được ghi nhận vào năm 1914, khi đó một công ty của Mỹ là Western Union đã cung cấp một dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng. Theo đó công ty này phát hành một tấm thẻ bằng kim loại với một số thông tin được in nổi lên trên để đảm bảo hai chức năng cơ bản là: nhận dạng được khách hàng và có thể lưu giữ lại các thông tin được in nổi trên tấm kim loại. Thấy được sự tiện lợi của thẻ Western Union, công ty General Petroleum của Mỹ cũng đã phát hành thẻ xăng dầu đầu tiên vào năm 1924, cho phép khách hàng có thể mua xăng dầu tại các cửa hàng của công ty trên toàn nước Mỹ.
Chỉ một vài năm sau đó, hơn 100 ngân hàng khác nhau trên khắp nước Mỹ cùng thực hiện ý tưởng phát hành thẻ thanh tóan trả chậm. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, để thực hiện kích cầu, khuyến khích tiêu dùng, góp phần khắc phục ảnh hưởng của cuộc đại khủng hoảng 5 này, các nước phát triển đã đưa ra mô hình tài trợ tiêu dùng bán chịu. Do vậy, cần có một loại công cụ tín dụng sử dụng linh hoạt để có thể thanh toán tại tất cả các điểm bán hàng. Vào năm 1945 Charge -It của ngân hàng John Biggins (Mỹ) ra đời, cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch nội địa bằng các phiếu có giá trị do ngân hàng phát hành.
Sau đó, các đại lý nộp lại những phiếu này cho ngân hàng Biggins, ngân hàng thu tiền từ khách hàng và thanh toán cho đại lý. Như vậy có thể nói những tấm thẻ kim loại cũng như các phiếu có giá trị là nền tảng cho việc ra đời những tẩm thẻ nhựa sau này. Tấm thẻ nhựa đầu tiên được phát hành vào năm 1950 bởi công ty Dinners Club. Khi đó, ông Frank McNamara, người sáng lập ra công ty Dinners Club, đã hết sức bối rối sau khi tham dự một buổi tiệc tại một nhà hàng mà quên mang theo ví tiền.
Ông đã nảy ra ý định phát hành những tấm thẻ nhựa để khách hàng có thể thanh toán sau đánh dấu sự ra đời của tấm thẻ tín dụng đầu tiên có tên “Diners Club”. Chỉ với lệ phí hàng năm là 5 Ưsd, những người mang theo loại thẻ này có thể ghi nợ khi ăn, nghỉ tại một số nhà hàng khách sạn ở NewYork và thanh toán số tiền này định kỳ theo tháng mà không giới hạn số tiền được phép chi tiêu. Đen năm 1951 đã có 1 triệu Ưsd được tính nợ và số lượng thẻ ngày càng tăng lên, công ty phát hành thẻ Diners Club nhanh chóng thu được lãi. Theo chân “Diners Club”, hàng loạt thẻ mới ra đời như Trip Charge, Golden Key, Gourmet Club, Espire Club.
Den năm 1958, công ty American Express cũng tham gia vào thị trường thẻ bằng việc phát hành thẻ American Express hay còn gọi là thẻ Amex trong đó tập trung vào các lĩnh vực du lịch và giải trí. Cùng với Hoa Kỳ, các nước kinh tể phát triển ở châu Ầu, ở châu Á, đặc biệt là ở Nhật Bản, thẻ Ngân hàng bắt đầu được sử dụng ngày một rộng rãi và chất lượng phát triển rất cao nhờ sự phát triển công nghệ kỹ thuật số. Năm 1961, JCB hình thành bởi ngân hàng Samva của Nhật, bắt đầu phát triển thành cơ sở quốc tế vào năm 1981.Hiện nay thẻ JCB được tiêu thụ trên 109 quốc gia với mục tiêu hướng vào thị trường du lịch và giải trí, đang trở thành loại thẻ cạnh tranh với Amex. 6 Ngân hàng Mỹ quốc là nơi đầu tiên phát hành thẻ Bank Americard mà ngày nay là Visa Card Năm 1966, Ngân hàng Bank of American chính thức trao quyền phát hành thẻ Bank of American của mình cho các ngân hàng khác thông qua việc ký các hợp đồng đại lý, chính thức bắt đầu giai đoạn tăng tổc phát triển, người dân đi du lịch nhiều hơn trên đất Mỹ và ra nước ngoài mà không lo lắng tới việc phải có sẵn tiền để thanh toán.
Thẻ tín dụng lúc này không chỉ mặc định giành cho những người giàu có mà dần trở thành một phương tiện thanh toán thông dụng.Tới năm 1977 thẻ của Bank of American được chấp nhận trên toàn cầu. í hay vì tên BankAmericarđ tên thẻ Visa ra đời với màu sắc đặc trưng vẫn là xanh lam. trăng và vàng. Cũng vào năm 1966, để cạnh tranh với Bank of Americard, 14 ngân hàng hàng đầu của Mỳ liên kết với nhau thành tổ chức Interbank Card Association (ICA) một tổ chức mới với chức năng là đầu mối trao đổi các thông tin về giao dịch thẻ.Năm 1967, 4 ngân hàng bang California đổi tên của họ từ California Bankcard Association thành Western State Bankcard Association (WSBA).
WSBA mở rộng mạng lưới thành viên với các tổ chức tài chính khác ở phía tây nước Mỹ. Sản phẩm thẻ của tổ chức WSBA là MASTERCHARGE. Tổ chức WSBA cũng cấp phép cho tổ chức Interbank sử dụng tên và thương hiệu của MASTERCHARGE.Năm 1979, MASTERCHARGE đổi tên thành MASTERCARD và trở thành loại thẻ tín dụng phổ biến thứ 2 trên thể giới với 22.000 tổ chức thành viên tại 200 quốc gia, 380 triệu chủ thẻ, 15 triệu đơn vị chấp nhận thẻ và 380. Từ đây, kinh doanh loại hình này đã phát triển rầm rộ không chỉ ở Mỹ.
Ngày 26/03/2002 tổ chức thẻ quốc tế China union pay international thành lập hoạt động dưới sự cho phép của NH trung ương Trung Quốc, phát hành thẻ thanh toán mang tên CUP. Hiện nay, Visa, Master, Amex, JCB và Diners Club, CUP là các loại thẻ phổ biến nhất trên thể giới. Trong dó Visa chiếm một thị phần đáng kể với mạng lưới đon vị chấp nhận thẻ trải rộng toàn cầu (24 triệu đơn vị chấp nhận thẻ trên 130 7 nước), 630 triệu chủ thẻ và 351.000 điểm đặt máy rút tiền tự động ATM, cùng doanh số hàng trăm tỷ mỗi năm. Visa đựơc coi là thẻ thông dụng nhất hiện nay.
Như vậy, thẻ ngân hàng ra đời từ nhu cầu thanh toán của người dân và dựa trên nền tảng công nghệ cũng như chiến lược thay thế tiền tệ trong lưu thông. Thực tế cho thấy, thẻ ngân hàng là một phát triển tất yếu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đồng thời đã và đang phản ánh đầy đủ những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và văn minh xã hội. Tiếp thu và ứng dụng những thành tựu của thế giới về khoa học kỹ thuật nhất là về công nghệ thông tin, hệ thống thẻ đang ngày hoàn thiện. Cùng với mạng lưới thành viên và khách hàng phát triển hàng ngày các TCTQT đã xây dựng hệ thống xử lý giao dịch và trao đổi thông tin toàn cầu về phát hành, thanh toán, cấp phép tra soát, khiếu nại và xử lý rủi ro.
Với doanh số giao dịch hàng trăm tỷ đô la mỗi năm, thẻ ngân hàng đang cạnh tranh quyết liệt cùng tiền mặt và séc trong hệ thống thanh toán toàn cầu. Đây là một thành công đáng kể với một ngành kinh doanh mới chỉ có vài thập kỷ hình thành và phát triển.2 Khái niệm và Phăn loại thẻ Khái niêm: Cùng với sự phát triển kinh tế, nhu cầu thanh toán nhanh chóng và thuận tiện trở thành một yêu cầu của khách hàng đối với ngân hàng. Điều này gây áp lực lên các ngân hàng đòi hỏi các ngân hàng phải nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán của mình nhằm cung cấp cho khách hàng dịch vụ thanh toán tốt nhất. Cũng trong thời gian đó, khoa học kỹ thuật thế giới đã có những bước tiến đáng kể trong lĩnh vực thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng, các tổ chức tín dụng phát triển và hoàn thiện phương thức thanh toán của mình, trong đó phải kể đến sự ra đời và phát triển của hình thức thanh toán bằng thẻ.
Có thẻ hiểu khái niệm thẻ thanh toán theo hai cách: - Xét về góc độ phát hành: thẻ là một phương tiện do ngân hàng, các định chế tài chính hoặc các công ty phát hành dùng để giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt. 8 - Xét về góc độ công nghệ thanh toán: thẻ là phương thức thanh toán ghi sổ điện tử giá trị của các giao dịch cần thanh toán, thực hiện trên hệ thống thanh toán được kêt nôi giữa các chủ thê tham gia, dựa trên nền tảng công nghệ ngân hàng và tin học viễn thông. Thẻ giúp việc thực hiện giao dịch thanh toán một cách thuận lợi, an toàn cho các đối tượng tham gia thanh toán. Tại Quy chế Phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hồ trợ hoạt động thẻ ngân hàng (Ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) thẻ được định nghĩa“Là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận” (Ngân hàng Nhà nước 2007, điều 2).
Từ các giác độ xem xét, nghiên cứu khác nhau, người ta đưa ra các khái niệm vê thẻ khác nhau. Song có thê hiêu "Thẻ là phirơng tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành đê thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản dược các bên thỏa thuận Các dăc điểm và yểu tố trên thé: Trên thị trường hiện nay tất cả các loại thẻ đều làm bằng nhựa có kích cỡ theo chuẩn: Chiều dài: 80,5598mm, chiều rộng 50,3975mm, dầy:0,4572mm. Thông thường một tấm thẻ phải thể hiện một số yếu tổ bắt buộc như: * Mặt trước của thẻ thường bao gồm: - Biểu tượng và tên của ngân hàng phát hành thẻ, huy hiệu của tổ chức thẻ quốc tế (đổi với thẻ quốc tể).