CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng: Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản hi phí nhất định. Cũng như quan hệ tín dụng dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung: • Có sự chuyển nhượng quyến sử dụng vốn từ người sở hững sang cho người sử dụng.
• Sự chuyển nhượng này mang tính tạm thời hay có thời hạn. • Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí. (trích: trang 54 sách Nghiệp vụ ngân hàng – TS.Nguyễn Minh Kiều) Trong nền kinh tế thị trường, cầu nối cung cấp vốn giữa những người có tiền nhàn rỗi với những người cần vốn để phục vụ cho đầu tư chủ yếu là thông qua các ngân hàng thương mại. Tín dụng ngân hàng không những chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động mà còn tham gia cấp tín dụng trung, dài hạn cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, cải tiến đổi mới kỹ thuật góp phần mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho các doanh nghiệp; ngoài ra tín dụng ngân hàng còn phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của cá nhân.
Như vậy, Tín dụng ngân hàng là hình thức đáp ứng chủ yếu nhu cầu về vốn cho mọi thành phần kinh tế một cách linh hoạt và kịp thời trong nền kinh tế thị trường. Đối với từng ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh đầu ra truyền thống nhằm thực hiện tối đa hóa lợi ích từ hoạt động huy động vốn đầu vào và chiếm tỷ trọng lớn nhất trên bảng tổng kết tài sản và đem lại phần lớn lợi nhuận cho từng ngân hàng. Phân loại tín dụng Các khoản tín dụng của ngân hàng có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu mà người ta có thể phân loại tín dụng ngân hàng theo hình thức cấp tín dụng, theo thời hạn trong quan hệ tín dụng, theo tính chất bảo đảm hoặc theo thành phần kinh tế…, cụ thể như sau: 1.
Phân loại theo thời gian: Căn cứ vào thời hạn cấp tín dụng, hoạt động tín dụng có thể chia thành: - Tín dụng ngắn hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn đến hết 12 tháng nhằm bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. - Tín dụng trung hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng. Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh… - Tín dụng dài hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn từ trên 60 tháng. Tín dụng dài hạn được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
Phân loại theo hình thức cấp tín dụng: - Cho vay: Là việc ngân hàng chuyển giao quyền sở hữu một lượng vốn bằng tiền cho người có nhu cầu (người vay) với cam kết người vay phải hoàn trả cả tiền vay gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định, gồm các hình thức cho vay chủ yếu như: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển, cho vay trả góp, cho vay thấu chi… và một số hình thức cấp tín dụng khác. - Chiết khấu thương phiếu: Là việc ngân hàng ứng trước tiền cho vay tương ứng với giá trị được ghi trên thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ). Về mặt pháp lý, ngân hàng không phải đã cho chủ của thương phiếu vay mà chỉ là hình thức trao đổi trái quyền. Tuy nhiên, đối với ngân hàng, việc bỏ tiền ra hiện tại để thu về một khoản lớn hơn trong tương lai với lãi suất xác định trước được coi như là hoạt động tín dụng.
Ngân 5 hàng tuy ứng trước tiền cho người bán, song thực chất là thay thế người mua trả tiền trước cho người bán. - Cho thuê tài sản: Trong nhiều trường hợp khách hàng không đủ điều kiện vay để mua tài sản, ngân hàng sẽ thực hiện việc mua các tài sản theo yêu cầu của khách hàng sau đó sẽ cho khách hàng thuê lại. Trong hình thức này, tài sản vẫn thuộc sở hữu của ngân hàng nên ngân hàng có thể thu hồi để bán hoặc cho người khác thuê khi người thuê không trả được khoản tiền thuê tài sản theo định kỳ. Thông thường, sau khi kết thúc thời hạn thuê, tài sản sẽ được ngân hàng ưu tiên bán cho khách hàng với giá ưu đãi.
- Bảo lãnh: Là cam kết của ngân hàng dưới hình thức phát hành thư bảo lãnh để cam kết với bên thứ ba sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết giữa khách hàng và bên thứ ba. Hình thức bảo lãnh gồm có: Bão lãnh dự thầu, Bảo lãnh thực hiện hợp đồng, Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước, Bão lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay, Bảo lãnh đảm bảo thanh toán, bảo lãnh bảo hành, bảo lãnh nộp thuế… 1. Phân loại theo hình thức bảo đảm: Tài sản đảm bảo của khoản tín dụng là khoản đảm bảo cho phép ngân hàng thu hồi được một phần nợ vay khi khách hàng không có khả năng trả nợ hoặc không có đủ tiền trả nợ cho ngân hàng bằng cách chuyển hoặc bán tài sản thành tiền. Tín dụng có thể chia thành tín dụng có bảo đảm bằng uy tín của chính khách hàng (hay tín dụng không có TSĐB – tín chấp) và tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp, cầm cố tài sản.
- Tín dụng không có TSĐB: có thể được cấp cho các khách hàng có uy tín, thường là khách hàng có quan hệ thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, luôn trả nợ đầy đủ, đúng hạn; hoặc đối với các khoản cho vay theo chỉ định của Chính phủ cũng thường không có TSĐB. - Tín dụng dựa có tài sản đảm bảo (các loại giấy tờ có giá, tiền, bất động sản, động sản, hàng tồn kho…): Ngân hàng và khách hàng sẽ thực hiện ký kết các 6 loại hợp đồng thế chấp tài sản và đăng ký giao dịch bảo đảm theo yêu cầu của pháp luật. Theo đó, ngân hàng phải kiểm tra, đánh giá được tình trạng của TSĐB (quyền sở hữu, giá trị, tính thị trường, khả năng thanh khoản, khả năng tài chính của người thứ ba…), có khả năng giám sát việc sử dụng hoặc có khả năng bảo quản TSĐB. Phân loại theo rủi ro: Để phân loại theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ, các căn cứ để chia loại rủi ro.
Hiện tại, đa số các ngân hàng đều chia ra thành 05 mốc thang bậc rủi ro theo các dấu hiệu rủi ro từ thấp đến cao cho các khoản mục tài sản, bao gồm cả nội bảng và ngoại bảng, cho vay, bảo lãnh, chứng khoán. Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại tính an toàn của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời. Bao gồm: - Nợ đủ tiêu chuẩn (nợ nhóm 1): bao gồm các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn. - Nợ cần chú ý (nợ nhóm 2): bao gồm các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ và chậm trả nợ gốc hoặc lãi trong vòng từ 90 ngày đến hạn trả nợ.
Nợ dưới tiêu chuẩn (nợ nhóm 3): bao gồm các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi, thời hạn chậm trả nợ từ 90 – 180 ngày kể từ thời điểm khoản vay đến hạn trả. - Nợ nghi ngờ (nợ nhóm 4): bao gồm các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là khả năng tổn thất cao, thời hạn chậm trả nợ từ 180 – 360 ngày kể từ thời điểm khoản vay đến hạn trả - Nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5): bao gồm các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn, thời hạn chậm trả nợ từ 360 ngày kể từ thời điểm khoản vay đến hạn trả trở lên.3 Chức năng của tín dụng ngân hàng: 1.1 Chức năng tập trung và phân phối vốn theo nguyên tắc hoàn trả, hay chức năng phân phối lại: Tín dụng là sự vận động của vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác. Chính nhờ sự vận động của tín dụng mà các chủ thể vay vốn nhận được một phần tài nguyên của xã hội phục vụ cho sản xuất hoặc tiêu dùng.
Phân phối tín dụng được thực hiện bằng hai cách như sau: + Phân phối trực tiếp: là việc phân phối từ chủ thể có vốn tạm thời chưa sử dụng sang chủ thể trực tiếp sử dụng vốn đó là kinh doanh và tiêu dùng. Phương pháp phân phối này được thực hiện trong quan hệ tín dụng thương mại và việc phát hành trái phiếu của Nhà nước và các công ty. + Phân phối gián tiếp: là việc phân phối được thực hiện thông qua các tổ chức tín dụng trung gian như Ngân hàng, Công ty tài chính, công ty quản lý quỹ đầu tư… Trong nền kinh tế hiện đại, phân phối tín dụng qua các tổ chức trong gian chiếm vị trí quan trọng nhất. Một mặt các tổ chức trung gian tập trung vốn tiền tệ của của các doanh nghiệp và cá nhân để làm nguồn vốn cho vay, mặt khác chúng phân phối nguồn vốn đó dưới hình thức cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, cá nhân và một phần cho kho bạc nhà nước.
Giữa phân phối qua tín dụng và phân phối qua ngân sách có những điểm khác nhau: đối với tín dụng phân phối trên cơ sở hòan trả, phân phối liên quan đến thu nhập quốc dân, và tổng sản phẩm xã hội, phân phối chủ yếu cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh.