CHƯƠNG 1 NHŨNG VẤN ĐỂ C ơ BẢN VỂ RỦI RO VÀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỂN k i n h t ế t h ị t r ư ờ n g 1. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 1. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại: Ngân hàng là một trung gian tài chính, thực hiện vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Rose tác giả cuốn Quản trị Ngân hàng thì: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [23, tr.
Như vậy, có thể hiểu các hoạt động mà một ngân hàng thực hiện bao hàm các công việc diễn ra tại một ngân hàng, các đối tượng khách hàng mà ngân hàng phục vụ, các khoản thu nhập ngân hàng nhận được. Đối với một ngân hàng đa năng hiện đại, các hoạt động có thể bao gồm: - Nhận tiền gửi và cung cấp các phương tiện thanh toán cho khách hàng: Nhận tiền gửi là hoạt động vốn có, thường xuyên của các ngân hàng từ xa xưa đến nay, là hoạt động đầu tiên và rất quan trọng đối với bản thân Ngân hàng thương mại cũng như mọi lĩnh vực của nền kinh tế, xã hội. Đây là nguồn vốn quan trọng của ngân hàng, đồng thời đem lại thu nhập cho người gửi tiền. Ngày nay, hoạt động nhận tiền gửi được thực hiện dưới các hình thức ngày càng đa dạng như: Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn; phát hành chứng chỉ tiền gửi của các tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn; vay vốn của các tổ chức, cá nhân và vay từ Ngân hàng Trung ương dưới hình thức tái cấp vốn.
Cùng với việc nhận tiền gửi, các ngân hàng thực hiện cả việc chi trả hộ theo lệnh của khách hàng. Chính trong việc chi trả hộ cho khách hàng, ngân 11 hàng đã đồng thời tạo ra những phương tiện thanh toán thay thế cho tiền trong lưu thông. - Hoạt động tín dụng của ngân hàng: Đây là hoạt động sử dụng nguồn tiền mà ngân hàng quản lý được của đơn vị, cá nhân trong nền kinh tế để tài trợ cho nền kinh tê theo phương thức đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng (hoạt động này sẽ được trình bày cụ thể tại Mục 1. Thực hiện các dịch vụ cho khách hàng: Ngoài các hoạt động nhận tiên gửi và tài trợ cho khách hàng, các ngân hàng còn có thể thực hiện các công việc khác theo yêu cầu của khách hàng.
Đó là các dịch vụ: bảo lãnh chứng khoán, tư vấn, uỷ thác, bảo hiểm, cho thuê két sắt. Đối với mỗi ngân hàng, khả năng thực hiện các dịch vụ không giống nhau và tuỳ thuộc vào đối tượng khách hàng mà ngân hàng đang phục vụ tùy thuộc vào khả năng của mỗi ngân hàng. Xu hướng chung, các ngân hàng đều cố gắng mở nhiều hoạt động dịch vụ nhằm thu hút thêm lượng khách hàng đến VƠI ngan hang, hơn nữa lợi nhuận thu được từ hoạt động dịch vụ thường chịu rủi ro thấp hơn hoạt động tài trợ. Các loại rủi ro chủ yếu của Ngân hàng thương mại: Trong hoạt động kinh doanh, rủi ro là không thể loại bỏ được cho dù có thận trọng đến đâu.
Hoạt động kinh doanh nào cũng đều hàm chứa rủi ro hoạt động kinh doanh càng mạo hiểm, rủi ro cao thì khả năng sinh lời càng lớn. Nhất là kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, nên rủi ro trong hoạt động ngân hàng mang tính đặc thù. Khái niệm rủi ro: Theo quan điểm truyền thống, rủi ro là những sự kiện có thể xảy ra làm cho mất mát tài sản hay làm phát sinh một khoản nợ, không thể đo lường được. Theo quan điểm hiện đại, rủi ro bao hàm nghĩa rộng hơn và có thể đo lương dược, rủi ro khong chỉ tính đên rủi ro tài chính mà còn phải tính đến rủi ro liên quan đến những mục tiêu hoạt động và mục tiêu chiến lược.
12 Theo Frank Knight: “rủi ro là sự bất chắc có thể đo lường được” [34 tr. Allan Willet lại cho rằng “rủi ro là sự bất chắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi” [33, tr. Theo Peter Rose, rủi ro đối với một ngân hàng có nghĩa là “mức độ không chắc chắn liên quan tới một vài sự kiện” [23, tr. Nhìn chung, các quan điểm đều cho rằng rủi ro là những bất chắc, diễn ra bất ngờ, ngoài ý muốn của chủ thể.
Có thể hiểu: Rủi ro là khả năng những sự kiện chưa chắc chắn trong tương lai sẽ làm cho chủ thể không đạt được những mục tiêu chiến lược và mục tiêu hoạt động, cũng như chi phí cơ hội của việc làm mất những cơ hội thị trường ”.Các loại rủi ro và mối quan hệ với rủi ro tín dụng: Rủi ro rất đa dạng, có thể phân tích theo nhiều khía cạnh khác nhau, đồng thời các loại rủi ro có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, rủi ro này có thể là nguyên nhân dẫn đên rủi ro khác. Trong phạm vi luận văn này chỉ đề cập đến một số loại rủi ro cơ bản mà một ngân hàng hiện đại thường gặp phải và mối quan hệ giữa một số loại rủi ro với rủi ro tín dụng (xem Phụ lục 1): - Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. - Rủi ro lãi suất: Nếu ngân hàng duy trì cơ cấu tài sản Có và tài sản Nợ với những kỳ hạn không cân xứng với nhau thì phải chịu những rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ tài sản Có hoặc khi giá trị của tài sản thay đổi do lãi suất thị trường biến động. Ngoài ra, rủi ro lãi suất còn thể hiện khi tỷ lệ lạm phát tăng nhanh hơn lạm phát dự kiến trong khi lãi suất cho vay không thể điều chỉnh được, thì ngân hàng có thể phải chịu rủi ro nếu tỷ lệ lạm phát lớn hơn hoặc bằng lãi suất cho vay (lãi suất thực tế âm).
Rủi ro lãi suất có mối quan hệ với rủi ro tín dụng thể hiện trên những khía cạnh như: Nếu lãi suất cho vay là cố định trong suốt thời hạn vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết 13 trong khi lãi suất trên thị trường đã giảm xuống, thì khách hàng vay phải chịu áp lực cao hơn trong việc trả nợ gốc và lãi. Ngược lại, nếu lãi suất cho vay trên thị trường tăng lên, thì những khoản vay mới cần phải xem xét kỹ. Lãi suất tăng làm tăng chi phí đầu vào của khách hàng, giá thành tăng, sức cạnh tranh giảm, lợi nhuận giảm. ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.
- Rủi ro ngoại hối: Rủi ro ngoại hối xảy ra do tài sản Có và tài sản Nợ bằng ngoại tệ không cân xứng với nhau cả về số lượng và kỳ hạn. Rủi ro ngoại hối có mối quan hệ với rủi ro tín dụng thể hiện như: Khi tỷ giá hối đoái biến động mạnh có thể dẫn đến tình trạng khan hiếm một loại ngoại tệ nào đó và để chi trả cho bên bán, các doanh nghiệp phải mua ngoại tệ với giá cao ngoài dự tính, lợi nhuận kinh doanh giảm, có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay. - Rủi ro nguồn vốn: + Rủi ro do bị đọng vốn: Do nguồn vốn huy động của ngân hàng bị ứ đọng không cho vay được, cũng như không thể chuyển sang được các loại tài sản Có sinh lời khác. Ngân hàng không khai thác hết được tiềm năng sinh lời của tài sản Có, hiệu quả sử dụng vốn giảm, dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh.
Nếu tình trạng này kéo dài mà không được khắc phục có thể ngân hàng sẽ phá sản. + Rủi ro do thiếu vốn khả dụng, tức là ngân hàng không đáp ứng được các nhu cầu thanh toán cho các tài sản Nợ hoặc không đủ vốn đáp ứng cho nhu cầu của các món vay. - Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu rút tiền ở ngân hàng ngay lập tức. Để tránh được rủi ro thanh khoản, các ngân hàng phải tính toán được Hệ số thanh khoản của mình, tức là tính dược khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán ngay của các tài sản Nợ.
- Rủi ro hoạt động ngoại bảng: Hoạt động ngoại bảng là các hoạt động không thuộc bảng cân đối tài sản, nhưng lại ảnh hưởng đến trạng thái tương lai của bảng cân đối tài sản nội bảng, vì các hoạt động này có thể tạo ra những tài 14 sản Có và tài sản Nợ bổ sung cho bảng cân đối nội bảng. Do trong các hoạt động ngoại bảng ngân hàng thu được phí mà không phải sử dụng đến vốn kinh doanh, nên các hoạt động này có xu hướng ngày càng phát triển. Tuy nhiên, hoạt động ngoại bảng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, nếu ngân hàng không quan tâm đến quản lý, theo dõi các khoản cam kết, bảo lãnh. thì rủi ro hoạt động ngoại bảng sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng.
- Rủi ro hoạt động: Rủi ro hoạt động là loại rủi ro tổn thất tài sản xảy ra do hoạt động kém hiệu quả, ví dụ như hệ thống thông tin không đầy đủ, hoạt động có vấn đề, có vi phạm trong hệ thống kiểm soát nội bộ, có sự gian lận hay những thảm họa không lường trước được. - Rủi ro quốc gia và rủi ro khác: Nếu tài sản Có và tài sản Nợ bằng ngoại tệ không cân xứng, khi đầu tư bằng bản tệ cho các công ty nước ngoài có trụ sở ở nước ngoài có thể xảy ra rủi ro đầu tư nước ngoài đó là rủi ro quốc gia. Đôi khi, rủi ro quốc gia còn nghiêm trọng hơn cả trường hợp rủi ro tín dụng mà ngân hàng gặp phải khi đầu tư cho các công ty nội địa. Một đảm bảo cho việc thu hồi được vốn gốc và lãi đầu tư ở nước ngoài là việc kiểm soát và dự tính được trạng thái cung cầu vốn và tín dụng trong tương lai của quốc gia mà ngân hàng có ý định đầu tư.