Chương 1, tác giả trình bày về cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại như nêu các khái niệm, phân loại, đặc điểm, nguyên nhân về rủi ro và rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra hệ thống các tiêu chí đo lường rủi ro trong hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại để từ đó làm cơ sở đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng tại Chi nhánh trong chương 2.1 RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG 1.1 Khái ni m về rủi ro trong hoạ động ngân hàng Theo trườn ph i tru ền thống: Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người. Theo trườn ph i trun hòa: Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được. Rủi ro vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực.
Rủi ro có thể mang đến cho con người những tổn thất mất mát, nguy hiểm nhưng cũng có thể mang đến những cơ hội, thời cơ. Kinght - nhà kinh tế học Mỹ: Rủi ro là các kết quả bất lợi có thể đo lường được. Như vậy, theo ông những gì chưa biết thì không phải là rủi ro mà là bất trắc.2 Phân loại rủi ro trong hoạ động ngân hàng Với những tiêu chí và mục đích khác nhau, có nhiều phương pháp phân loại rủi ro. Trong phạm vi nghiên cứu của tác giả, chỉ đi sâu vào phân tích các loại rủi ro chủ yếu như sau: Trần Huy Hoàng (2011) cho rằng các loại rủi ro trong kinh doanh NH gồm: - Rủi ro tín dụng: là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của NH, biểu hiện thực tế thông qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho NH.
- Rủi ro thanh khoản: là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp NH thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán. 11 - Rủi ro tỷ i hối đo i: là rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay ngoại tệ hoặc quá trình kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá biến động theo chiều hướng bất lợi cho NH. - Rủi ro lãi suất: là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của NH.2 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái ni m về rủi ro ín dụng Khi nói tới RRTD của NH, khái niệm đơn giản nhất được hiểu như sau: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay của NH, biểu hiện thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng” (Trần Huy Hoàng, 2011). Như vậy, khi đến hạn mà khách hàng trả chậm, trả không đúng hạn hoặc không trả thì có nghĩa là RRTD đã xảy ra.
Ngoài khái niệm trên, theo Uỷ ban Basel về giám sát NH thì “Rủi ro tín dụng là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một NH, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn”.Fitch (dẫn theo Hồ Diệu, 2002) lại định nghĩa RRTD là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Theo điều 3 của Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN về việc ban hành Quy định về phân loại tài sản có, mức trích lập, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động NH của TCTD, chi nhánh NH nước ngoài thì khái niệm RRTD được định nghĩa như sau: “rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của TCTD là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh NH nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.2 Đặc điểm của rủi ro ín dụng Để chủ động phòng ngừa RRTD đạt hiệu quả, việc nhận biết các đặc điểm của RRTD rất cần thiết và hữu ích. RRTD có những đặc điểm cơ bản sau (Nguyễn Trọng Tài, 2012): 12 - RRTD man tính tất yếu: nó luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng. Chấp nhận rủi ro là đương nhiên trong hoạt động NH.
Các NHTM thường đánh giá cơ hội kinh doanh trên mối quan hệ rủi ro - lợi nhuận nhằm tìm ra cơ hội đạt được lợi ích xứng đáng với rủi ro mà mình phải chấp nhận. NH sẽ hoạt động và phát triển tốt nếu như mức rủi ro là hợp lý, kiểm soát được và nằm trong phạm vi khả năng nguồn tài chính và năng lực tín dụng của mình. - RRTD man tính i n tiếp: nó xảy ra sau khi NHTM giải ngân vốn vay và trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng. Do tình trạng thông tin bất cân xứng nên NHTM thường ở thế bị động.
NHTM thường biết thông tin sau hoặc thông tin không chính xác về khách hàng và do đó thường có những ứng phó không kịp thời. - RRTD man tính đa dạn và phức tạp: Đặc điểm này thể hiện ở sự đa dạng và phức tạp trong nguyên nhân gây ra RRTD cũng như diễn biến, hậu quả khi nó xảy ra.3 Phân loại rủi ro ín dụng 1.1 Phân loại RRTD theo rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục Trần Huy Hoàng (2011) cho biết căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được chia làm 2 loại: rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. - Rủi ro giao dịch là một hình thức RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo, rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi NH lựa chọn những phương án hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro đảm bảo phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục: là hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý trong danh mục cho vay của NH, được chia thành 2 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
13 + Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung là trường hợp NH tập trung cho vay vốn quá nhiều đối với một số khách hàng. Cho vay quá nhiều DN hoạt động trong cùng một ngành, một lĩnh vực kinh tế hoặc cùng một vùng địa lý nhất định, hoặc cùng một loại hình cho vay rủi ro cao.2 Phân loại RRTD theo mức độ tổn thất Phân loại RRTD theo mức độ tổn thất được chia làm 2 nhóm: Rủi ro đọng vốn là rủi ro xảy ra trong trường hợp đến thời hạn mà NH vẫn chưa thu hồi được vốn vay, ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của NH, gặp khó khăn cho việc thanh toán cho khách hàng khi đến hạn NH phải trả cho người gửi tiền.
Rủi ro mất vốn là rủi ro khi người vay không có khả năng trả được nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc hoặc lãi vay, NH chỉ trông chờ vào giá trị thanh lý tài sản của DN. Rủi ro mất vốn sẽ làm tăng chi phí do nợ khó đòi tăng, chi phí quản lí, chi phí giám sát; giảm lợi nhuận do các khoản dự phòng gia tăng cho những khoản vốn mất đi.3 Phân loại RRTD theo đối tượng sử dụng Theo cách phân loại này có thể chia làm 3 nhóm như sau: Rủi ro khách hàng cá thể: Là rủi ro tín dụng xảy ra đối với khách hàng là cá nhân, hộ sản xuất. Rủi ro công ty, tổ chức kinh tế, định chế tài chính: Là rủi ro tín dụng xảy ra đối với khách hàng là công ty, tổ chức kinh tế, định chế tài chính gọi chung là khách hàng DN. Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý: Là rủi ro tín dụng xảy ra đối với từng quốc gia đối với hoạt động vay nợ, viện trợ.4 Phân loại RRTD theo tính tổng thể của rủi ro Phân loại RRTD theo tính tổng thể của rủi ro gồm có: Rủi ro giao dịch là một rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm, rủi ro nghiệp vụ. 14 Rủi ro danh mục là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của NH, được phân thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.5 Phân loại RRTD theo giai đoạn phát sinh rủi ro Theo cách phân loại này, RRTD được chia làm 3 nhóm như sau: Rủi ro trước khi cho vay: Rủi ro xảy ra khi NH phân tích đánh giá sai về khách hàng dẫn đến cho vay các khách hàng không đủ điều kiện đảm bảo khả năng trả nợ trong tương lai. Rủi ro trong khi cho vay: Rủi ro này xảy ra trong quy trình cấp tín dụng. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong khi cho vay bao gồm: việc giải ngân không đúng tiến độ; không cập nhật thông tin khách hàng thường xuyên và không dự báo được rủi ro tiềm năng.