CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HỘ SXKD CỦA NHTM 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HỘ SXKD CỦA NHTM 1. Khái niệm và đặc điểm hộ SXKD a. Khái niệm hộ SXKD Thời kỳ trước năm 1988, hệ thống Ngân hàng Việt Nam chỉ tập trung cho vay thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, chưa cho phép các thành phần kinh tế khác phát triển như hiện nay.
Chỉ từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ chính trị, việc ban hành Luật đất đai năm 1993 cùng với sự đổi mới về cơ cấu tổ chức, thay đổi đối tượng khách hàng của hệ thống Ngân hàng, tỷ trọng cho vay các thành phần kinh tế khác nhau bắt đầu thay đổi trong đó cho vay hộ SXKD tăng dần lên và hộ SXKD đã giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, khái niệm về hộ SXKD vẫn chưa được định nghĩa cụ thể, hầu hết đều mặc nhiên thừa nhận hộ SXKD là hộ gia đình hay kinh tế hộ. Theo điều 116, Bộ luật Dân sự định nghĩa như sau: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”. Như vậy: - Hộ gia đình (hay hộ SXKD) được xác định là một đơn vị kinh tế tự chủ, hoạt động kinh tế của hộ SXKD thường tập trung ở các lĩnh vực liên quan đến nông nghiệp, phát triển nông thôn và một số lĩnh vực khác do pháp luật quy định.
10 - Tài sản chung của hộ SXKD gồm tài sản do các thành viên cùng nhau tạo lập nên hoặc các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ. - Chủ hộ là đại diện của hộ SXKD trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên khác là thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự. Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ SXKD xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ SXKD.
Hộ SXKD chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ. Đặc điểm của hộ SXKD Hộ SXKD là bộ phận quan trọng hợp thành tổng thể nền kinh tế, có mối quan hệ chặt chẽ với các ngành kinh tế khác và có những đặc điểm riêng sau: - Thứ nhất: Kinh tế hộ nông thôn nước ta đang chuyển từ kinh tế tự cấp, tự túc khép kín dần lên nền kinh tế hàng hoá. Tiếp cận với thị trường chuyển từ nghề nông thuần tuý sang nền kinh tế đa dạng theo xu hướng chuyên môn hoá. Dưới sự tác động của các quy luật kinh tế thị trường trong quá trình chuyển hoá tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh và hệ quả sẽ đến sự phân chia giàu nghèo trong nông thôn.
Từ đó vấn đề đặt ra đối với quản lý và điều hành phía Nhà nước là phải làm sao cho phép kinh tế hộ phát triển mà vẫn đảm bảo công bằng xã hội, tăng số hộ giàu, giảm hộ nghèo, tạo điều kiện để hộ nghèo bớt khó khăn và vươn lên khá giả. - Thứ hai: Quy mô sản xuất và cơ sở vật chất kỹ thuật của các hộ sản xuất ở các vùng, các khu vực và các tỉnh thành khác nhau có sự chênh lệch đáng kể. Sở dĩ có sự khác biệt nói trên một phần là do mỗi vùng, mỗi khu vực có những đặc điểm riêng về điều kiện địa lý, khí hậu nhưng phần lớn là do sự khác biệt về tiềm năng kinh tế giữa các vùng. 11 Do có sự chênh lệch lớn về quy mô và cơ sở vật chất kỹ thuật giữa các hộ, cùng với sự tồn tại của một số lượng lớn các hộ sản xuất nhỏ lẻ, tất yếu sẽ dẫn đến quá trình tích tụ và tập trung về ruộng đất, cơ sở vật chất kỹ thuật, quá trình tích tụ và tập trung này sẽ góp phần giảm bớt tính chất phân tán lạc hậu của nền kinh tế tiểu nông tạo điều kiện thuận lợi để phát triển, mở rộng sản xuất kinh tế hộ.
- Thứ ba: Cùng với sự chuyển hoá nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, kinh tế hộ SXKD cũng sẽ suất hiện thêm nhiều hình thức tổ chức kinh tế hộ SXKD khác nhau như hộ nhận khoán, hộ nhận thầu, hộ gia đình là hộ thành viên của hợp tác xã, nông trường, doanh nghiệp Nhà nước. Sự xuất hiện các hình thức tổ chức mới đã góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế hộ, tăng thu nhập của hộ. Tuy nhiên các hình thức tổ chức như thế này cũng chịu mức độ rủi ro rất lớn vì vậy Nhà nước cần ban hành các chính sách hỗ trợ thích hợp để kinh tế hộ SXKD củng cố và nâng cao vị trí của mình trong tổng thể nền kinh tế quốc dân. Cho vay hộ SXKD của NHTM a.
Khái niệm cho vay hộ SXKD của NHTM - Khái niệm về cho vay: Hoạt động tín dụng xuất hiện từ cuối thời kỳ công xã nguyên thủy, và có một quá trình hoạt động, phát triển rất mạnh mẽ qua các thời kỳ xã hội để trở thành một hoạt động quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội như hiện nay. Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội và các tổ chức tín dụng khác theo nguyên tắc có hoàn trả. Theo Luật các TCTD số 47/2010/QH12 định nghĩa: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách 12 hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. - Khái niệm về cho vay hộ SXKD: Như vậy, căn cứ trên các khái niệm, định nghĩa về tín dụng trên thì cho vay hộ SXKD của NHTM là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay là NHTM giao hoặc cam kết giao cho khách hàng là hộ SXKD một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Đặc điểm cho vay hộ SXKD của NHTM - Về quy mô của khoản vay: món vay thường nhỏ, lẻ. Quy mô SXKD của hộ gia đình thường không lớn do hộ SXKD đa phần tập trung ở các ngành nghề nhỏ, lẻ, yêu cầu về trang thiết bị, kỹ thuật thấp, vốn đầu tư ban đầu không lớn, do đó nhu cầu vay vốn của các hộ SXKD chỉ ở mức trung bình, nhỏ, đáp ứng đủ các yêu cầu về buôn bán, kinh doanh nhỏ lẻ hoặc nuôi trồng, chăn nuôi ở quy mô vừa và nhỏ. - Số lượng các món vay nhiều: Hiện nay, số lượng các món vay của hộ SXKD đang dần chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số các món vay của NHTM. Với nền kinh tế thị trường, Việt Nam đang dần phát triển mở ra rất nhiều loại hình kinh doanh, tạo điều kiện cho các hộ gia đình phát triển kinh doanh theo đó nhu cầu vay vốn đặc biệt là các khoản tín dụng trung bình và nhỏ tăng lên rất nhiều đã dẫn đến sự tăng mạnh về số lượng các món vay của hộ SXKD tại các TCTD trong nước.
- Mức độ phân tán các khoản vay rất rộng: Với sự đa dạng các loại hình SXKD của hộ SXKD trải rộng rất nhiều lĩnh vực từ nông nghiệp, nông thôn đến SXKD tiểu thương., địa bàn hoạt động của hộ SXKD hầu như có mặt ở khắp các vùng miền từ nông thôn cho đến thành thị, nơi nào có thể 13 SXKD với các loại hàng hóa, sản phẩm hoặc kinh doanh thì nơi đó đều có thể cho vay hộ SXKD. - Thủ tục của khoản vay đơn giản, gọn nhẹ: Tâm lý của hộ SXKD thường ngại các thủ tục rườm rà, thời gian làm thủ tục kéo dài, đồng thời phải tiết kiệm chi phí, do vậy yêu cầu về các thủ tục trong việc vay vốn của ngân hàng cần phải đơn giản, tiết giảm các yêu cầu về giấy tờ một cách nhiều nhất, tránh để hộ SXKD đi lại nhiều gây lãng phí thời gian và tiền của của cả hộ SXKD lẫn TCTD. - Việc kiểm tra, giám sát khoản vay gặp nhiều khó khăn: Với đặc thù các loại hình kinh doanh rất đa dạng, phức tạp, phân bố rộng khắp địa phương đồng thời sổ sách hoạt động kinh doanh của hộ SXKD không được thực hiện nghiêm túc hoặc không có; việc kiểm tra, giám sát khoản vay trước và sau khi cho vay gặp rất nhiều khó khăn đối với CBTD trong công tác thẩm định TSĐB, theo dõi tình hình hoạt động SXKD cũng như những biến động bất thường của hộ SXKD. - Chi phí cho vay hộ SXKD cao: do điều kiện quy mô một khoản vay của hộ SXKD khá nhỏ so với các khoản cho vay doanh nghiệp, trong khi đó chi phí cho các hoạt động kiểm tra, giám sát hộ SXKD không ít hơn là bao, việc thu thập thông tin về hộ SXKD cũng gặp nhiều khó khăn do tính chất phân tán, đa dạng của hộ SXKD dẫn đến chi phí cho vay tính trên một đồng vốn đối với hộ SXKD khá cao.
Phân loại cho vay hộ SXKD của NHTM Phân loại theo hình thức cho vay - Cho vay trực tiếp: Cho vay trực tiếp là quan hệ tín dụng trong đó khách hàng có nhu cầu về vốn giao dịch trực tiếp với ngân hàng để vay và trả nợ. Với phương thức này, việc cấp tín dụng có thể thực hiện song phương hay đa phương. Với phương thức đa phương, ngoài ngân hàng và khách hàng còn 14 có bên thứ 3 là những nhà cung ứng đầu vào hay các nhà chế biến, bao tiêu nông sản. Phương thức cho vay này sẽ giúp ngân hàng giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay.
- Cho vay bán trực tiếp: Với đặc điểm về hoạt động sản xuất nông nghiệp và cho vay đối với lĩnh vực này, cần có phương thức cho vay phù hợp.