Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lí luận về tín dụng bán lẻ. Chương 3: Thực trạng hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ. Chương 4: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh Cần Thơ và kết luận, kiến nghị. 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN ỤNG BÁN LẺ 2.1 Rủi ro tín dụng bán lẻ RRTDBL là một phần trong rủi ro tín dụng ngân hàng.
Do vậy, để hiểu RRTDBL thì phải bắt đầu từ khái niệm về RRTD. Có nhiều khái niệm về RRTD được ghi nhận trong các tài liệu nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước. Sauders và Lange (2005) cho rằng, RRTD là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngan hàng không thể thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời gian. Theo Gestel và Baesens (2009), RRTD là rủi ro mà bên đi vay không trả được và không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ.Nó có thể xảy ra khi đối tác không thể trả hoặc không thể trả đúng thời hạn.
RRTD là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát Luận văn thạc sĩ KT từ việc vốn vay không được thanh toán hay thanh toán trễ hạn (Koch, 2005). Theo định nghĩa của Ủy ban Basel thuộc Ngân hàng Thanh toán Quốc tế: “RRTD là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận”. Đứng trên nhiều góc độ khác nhau để nhìn nhận thì RRTD có thể được diễn đạt dưới các hình thức khác nhau, song các khái niệm, các quan điểm đều tựu chung về bản chất của RRTD đó là: RRTD là khả năng xảy ra tổn thất, thiệt hại về kinh tế mà tổ chức tín dụng phải gánh chịu do khách hàng vay vốn không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi hoặc hoàn trả không đúng hạn. Như vậy, RRTDBLcó thể hiểu theo cách đơn giản là tổn thất có khả năng xảy ra đối với TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cho vay đối với khách hàng bán lẻ (khách hàng cá nhân, hộ gia đình, một nhóm người) do khách hàng bán lẻ không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.2 Phân loại RRTDBL Có rất nhiều tiêu chí để phân loại RRTDBL như sau: 5 - Phân loại theo nguồn gốc Căn cứ vào nguồn gốc của RRTD có thể chia RRTD làm 2 nhóm: rủi ro đạo đức và rủi ro do sự lựa chọn đối nghịch.
Rủi ro đạo đức: là rủi ro do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra. Vì lợi ích cá nhân mà bên cho vay đã bỏ qua các thông tin không tin cậy về năng lực trả nợ của bên đi vay hoặc bên đi vay đã cố tình không tuân thủ các quy định trong thỏa thuận vay, không cung cấp các thông tin có thể ảnh hưởng đến năng lực trả nợ trong quá trình sử dụng vốn vay. Rủi ro do sự lựa chọn đối nghịch: là rủi ro do thông tin không cân xứng tạo ra trước khi cuộc giao dịch diễn ra. Bên cho vay tin tưởng vào năng lực của người vay mà cho vay trong khi người đi vay với mục đích để vay được vốn đã cung cấp thông tin không trung thực cho bên cho vay.
- Phân loại theo mức độ tổn thất Rủi ro đọng vốn: là rủi ro xảy ra trong trường hợp đến thời hạn mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay, dẫn đến vốn bị ứ đọng, ảnh hưởng đến kế hoạch sử Luận văn thạc sĩ KT dụng vốn của ngân hàng và gặp khó khăn trong việc thanh toán cho khách hàng. Rủi ro mất vốn: là rủi ro khi người vay không trả được nợ theo hợp đồng đã thỏa thuận, bao gồm gốc hoặc lãi vay, Ngân hàng chỉ trông chờ vào giá trị thanh lý tài sản bảo đảm. Rủi ro mất vốn sẽ làm tăng chi phí do nợ khó đòi tăng, chi phí quản lí, chi phí giám sát, làm giảm lợi nhuận do các khoản dự phòng gia tăng bù đắp cho những khoản vốn mất đi. - Phân loại theo tính chất Nếu căn cứ vào tính chất phát sinh rủi ro thì RRTDBL được phân loại gồm có rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch gồm: Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá, phân tích tín dụng, khi NH lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo (TSĐB), chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của TSĐB. 6 Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỷ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của Ngân hàng được phân chia thành hai loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng đi vay. Rủi ro tập trung: là rủi ro do Ngân hàng tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều đối với một khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc trong cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. - Phân loại rủi ro dựa vào giai đoạn phát sinh rủi ro Rủi ro trước khi cho vay: là rủi ro xảy ra khi ngân hàng phân tích, thẩm định Luận văn thạc sĩ KT sai về kháchhàng dẫn đến cho vay đối với các khách hàng không đủ điều kiện đảm bảo khả năng trả nợ trong tương lai.
Rủi ro trong khi cho vay: là rủi ro xảy ra trong quá trình cấp tín dụng, nguyên nhân dẫn đến rủi ro như là giải ngân không đúng tiến độ, không theo dõi tình hình vay vốn củakhách hàng thường xuyên và không dự báo được rủi ro tiềm ẩn. Rủi ro sau khi cho vay: là rủi ro xảy ra khicán bộ tín dụng không giám sát được tình hình sử dụng vốn vay, khả năng tài chính trong tương lai của khách hàng. - Phân loại rủi ro theo đối tượng sử dụng vốn Rủi ro khách hàng cá thể: là RRTD xảy ra đối với đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình. Rủi ro công ty, tổ chức kinh tế: là RRTD xảy ra đối với khách hàng là công ty, tổ chức kinh tế.
- Phân loại rủi ro theo phạm vi của RRTD Căn cứ phạm vi của RRTD, có thể phân RRTDBL thành rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống. Trong thực tiễn hoạt động tín dụng, cách phân loại RRTD theo phạm vi rủi ro sẽ giúp cho ngân hàng đưa ra các giải pháp quản trị rủi ro phù hợp và hữu hiệu nhất. 7 RRTD cá biệt: là rủi ro xảy ra đối với một khoản vay của một khách hàng cụ thể, thuộc một nhóm ngành cụ thể. RRTD cá biệt xảy ra do một số nguyên nhân: Thứ nhất, đặc điểm ngành và loại hình kinh tế của khách hàng; Thứ hai, tình hình tài chính của khách hàng; Thứ ba, khả năng quản trị của khách hàng; Thứ tư, đạo đức của khách hàng; Thứ năm, các nguyên nhân khác.
RRTD hệ thống: là rủi ro xảy ra không chỉ đối với một ngân hàng mà mang tính chất hệ thống, lan truyền đến cả ngànhngân hàng. Nguyên nhân của rủi ro hệ thống bao gồm: sự thay đổi chính sách thể hiện ở chính sách tài chính tiền tệ, chính sách thuế; các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế ảnh hưởng đến rủi ro hệ thống bao gồm: tỉ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP), chỉ số chứng khoán, chỉ số giá tiêu dùng; luật pháp và môi trường đầu tư và các yếu tố bất khả kháng. Để hạn chế rủi ro này, thay vì đa dạng hóa hoạt động tín dụng, ngân hàng cần phải thực hiện tốt công tác dự báo tình hình kinh tế vĩ mô, các tác động của lạm phát, thất nghiệp, các chính sách sắp đến của Chính phủ và chủ động đưa ra các giải Luận văn thạc sĩ KT pháp quản trị rủi ro phù hợp.3 Khái niệm nợ quá hạn, nợ xấu Căn cứ thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN về việc Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Thông tư 09/2014/TT-NHNN ngày 18/03/2014 V/v Sửa đổi bổ sung một số điều của thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN, dư nợ cho vay của ngân hàng được phân loại thành 5 nhóm cơ bản như sau: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): Là các khoản nợ trong hạn hoặc quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi. Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): Là các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày và được đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi nhưng khả năng trả nợ đã có dấu hiệu suy giảm.
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Là các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn và có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi,bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ 8 cấu lại.