CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG TRONG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1.1 Phương thức tín dụng chứng từ Xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế đã mở ra cho nhân loại cánh cửa giao lưu đầy triển vọng, các nước đang xích lại gần nhau thông qua chiếc cầu nối thương mại quốc tế. Vượt qua không gian và thời gian, những luồng chu chuyển hàng hóa, dịch vụ và tiền tệ đã tạo ra sự gắn kết bền vững giữa cung và cầu ở những nước có trình độ kinh tế khác nhau và ngày càng trở nên phong phú, đa dạng kéo theo sự phức tạp ngày càng lớn trong mắt xích cuối cùng của quá trình trao đổi, thanh toán quốc tế. Điều đó đặt ra cho các ngân hàng thương mại phải phát triển các dịch vụ kinh tế đối ngoại một cách tương ứng, trong đó không thể không kể đến hoạt động thanh toán quốc tế với nhiều phương thức thanh toán đa dạng và phong phú. Trong các phương thức thanh toán này, tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến nhất do những ưu việt của nó.
Song tín dụng chứng từ không phải là nghiệp vụ đơn giản, trong thực tế công tác này đã gặp phải không ít những rủi ro gây thiệt hại cả về tài chính lẫn uy tín cho các ngân hàng thương mại cũng như các doanh nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp cần hiểu rõ đối tác về năng lực tài chính, tiểu sử về hoạt động sản xuất kinh doanh, lĩnh vực xuất nhập khẩu; khi ký hợp đồng phải chặt chẽ và tuân thủ các quy định của tiêu chuẩn quốc tế, các nguồn luật cần tuân thủ để khi có xảy ra.1 Khái niệm Theo ICC (2007, trang 10) “Tín dụng chứng từ (TDCT) là một sự thoả thuận bất kỳ, cho dù được mô tả hoặc gọi tên như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không huỷ ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”. Đối với nhà xuất khẩu: được ngân hàng phát hành (NHPH) đảm bảo chắc chắn thanh toán nếu xuất trình bộ chứng từ phù hợp. 4 Đối với nhà nhập khẩu: được NHPH đảm bảo không phải thanh toán khi nào chưa nhận được bộ chứng từ phù hợp.
Rõ ràng là ngân hàng, với vai trò tổ chức trung gian đã đứng giữa để dung hoà lợi ích, rủi ro của nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu. Nhà nhập khẩu có cơ sở để tin chắc rằng NHPH sẽ không thanh toán trước khi nhà xuất khẩu giao hàng, còn nhà xuất khẩu tin chắc rằng sẽ nhận được tiền hàng nếu giao cho NHPH bộ chứng từ hợp lệ.2 Đặc điểm của giao dịch tín dụng chứng từ Do có tính tùy ý về cách gọi, nên trong thực tế, có thể gặp rất nhiều thuật ngữ khác nhau được dùng để chỉ phương thức thanh toán tín dụng chứng từ bằng tiếng Anh và tiếng Việt như sau: - Tiếng Anh: Letter of Credit (viết tắt là LC hoặc L/C); Credit; Documentary Credit (viết tắt DC hoặc D/C),. - Tiếng Việt: Tín dụng thư (TDT); Thư tín dụng (TTD); Tín dụng chứng từ (TDCT),. Giao dịch tín dụng chứng từ có những đặc điểm sau: Là hợp đồng kinh tế hai bên Một L/C liên quan đến nghĩa vụ và quyền lợi của 3 bên: nhà xuất khẩu, nhập khẩu, NHPH, nhưng bản thân L/C là hợp đồng kinh tế độc lập của nhà xuất khẩu và NHPH, mọi yêu cầu, chỉ thị của nhà nhập khẩu đã do NHPH đại diện, do đó tiếng nói chính thức của nhà nhập khẩu không được thể hiện trong L/C.
Độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hoá L/C là những giao dịch riêng biệt với các hợp đồng mua bán, hoặc các hợp đồng khác mà các hợp đồng này có thể làm cơ sở của L/C và các Ngân hàng không bị liên can đến, hoặc bị ràng buộc vào các hợp đồng như thế thậm chí ngay cả trong L/C có bất cứ sự dẫn chiếu nào đến các hợp đồng đó. Chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán căn cứ trên chứng từ Khi xuất trình là phù hợp, thì ngân hàng phải thanh toán vô điều kiện cho nhà xuất khẩu, bất kể thực tế hàng hoá, nếu hàng hoá không khớp với chứng từ thì việc 5 giải quyết, khiếu nại được điều chỉnh bởi hợp đồng mua bán, không liên quan đến ngân hàng. Ngân hàng chỉ chịu trách nhiệm trên bề mặt bộ chứng từ. Đây là một đặc điểm khiến giao dịch TDCT xảy ra nhiều rủi ro, tranh chấp mà sẽ được phân tích ở phần sau.3 Nội dung L/C Ngày nay, phần lớn L/C đều được truyền đến các ngân hàng theo điện SWIFT, nội dung được chia theo các trường (xem thêm phụ lục 1), chủ yếu gồm: 50:Applicant (Người mở), 59: Beneficiary (Người thụ hưởng), 44C: Latest Date of shipment (Ngày giao hàng muộn nhất), 45A: Description of Goods and/or Services (Mô tả hàng hóa), 46A: Documents Required (Chứng từ yêu cầu).
Để được ngân hàng thanh toán, sau khi giao hàng, người xuất khẩu phải thu thập đầy đủ các chứng từ quy định ở trường 46A (vận đơn, hóa đơn, giấy chứng nhận xuất xứ,.) để xuất trình cho ngân hàng. Nội dung bộ chứng từ xuất trình phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của L/C về mô tả hàng hóa (quy định ở trường 45A), ngày giao hàng muộn nhất không vượt quá quy định tại 44C, các điều khoản về vận tải, cảng xếp dỡ tại trường 43, 44,. Tóm lại, những nội dung quy định trong L/C chính là những chỉ dẫn để người bán thành lập bộ chứng từ hàng hóa và đòi tiền người mua thông qua các ngân hàng liên quan.4 Các bên tham gia giao dịch TDCT Về cơ bản, một giao dịch TDCT liên quan đến bốn bên sau đây: - Người yêu cầu mở L/C (Applicant): thường là nhà nhập khẩu. - Nguời thụ hưởng L/C (beneficiary): là người hưởng số tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán theo L/C, thường là nhà xuất khẩu.
- NHPH L/C (Issuing Bank): là ngân hàng thực hiện phát hành L/C theo đơn của người yêu cầu, NHPH là ngân hàng: 6 Với điều kiện là các chứng từ quy định được xuất trình tới ngân hàng chỉ định hoặc tới NHPH và với điều kiện việc xuất trình là phù hợp, NHPH phải thanh toán nếu tín dụng có giá trị thanh toán. NHPH bị ràng buộc không thể hủy bỏ đối với việc thanh toán kể từ khi ngân hàng đó phát hành tín dụng. NHPH cam kết hoàn trả tiền cho một ngân hàng chỉ định mà ngân hàng này đã thanh toán hoặc đã thương lượng thanh toán cho một xuất trình phù hợp và đã chuyển giao các chứng từ cho NHPH. (ICC, 2007, trang 14) - Ngân hàng đại lý/ ngân hàng được uỷ thác việc thanh toán bộ chứng từ Ngân hàng thông báo (NHTB): là chi nhánh của NHPH tại nước nhà xuất khẩu.
Theo ICC (2007, trang 16): “Tín dụng và bất cứ sửa đổi nào có thể được thông báo cho người thụ hưởng thông qua NHTB. NHTB, nhưng không phải là ngân hàng xác nhận (NHXN), thông báo tín dụng và các sửa đổi mà không cam kết về thanh toán hoặc thương lượng thanh toán”. NHTB có thể sử dụng dịch vụ của một ngân hàng khác (NHTB thứ hai) để thông báo tín dụng và các sửa đổi cho người thụ hưởng. Ngân hàng sử dụng dịch vụ của NHTB hoặc NHTB thứ hai để thông báo tín dụng thì cũng phải sử dụng các ngân hàng đó để thông báo các sửa đổi của tín dụng.
Ngân hàng xác nhận: Theo ICC (2007, trang 16) thì NHXN là ngân hàng “Với điều kiện là các chứng từ quy định được xuất trình đến NHXN hoặc đến bất cứ một ngân hàng chỉ định nào khác và với điều kiện việc xuất trình là phù hợp, NHXN phải: - Thanh toán, nếu tín dụng có giá trị thanh toán. - Thương lượng thanh toán, miễn truy đòi, nếu tín dụng có giá trị thương lượng thanh toán tại NHXN. - NHXN bị ràng buộc không thể hủy bỏ đối với việc thanh toán hoặc thương lượng thanh toán kể từ khi ngân hàng đó thực hiện xác nhận tín dụng. 7 - NHXN cam kết hoàn trả tiền cho một ngân hàng chỉ định khác mà ngân hàng hàng này đã thanh toán hoặc đã thương lượng thanh toán cho một xuất trình phù hợp và đã chuyển giao các chứng từ cho NHXN”.
Trên thực tế, một ngân hàng chỉ đồng ý xác nhận L/C nếu nó cũng đồng thời là NHTB và chiết khấu bộ chứng từ. Rủi ro của NHXN là rất lớn, nó vừa là bảo hiểm rủi ro của NHPH trong trường hợp NHPH mất khả năng thanh toán, vừa có trách nhiệm thanh toán bộ chứng từ- miễn truy đòi nếu L/C có giá trị thương lượng thanh toán tại NHXN. Điều này yêu cầu NHXN phải tham gia chặt chẽ trong các khâu của TDCT, nhất là thông báo, để theo dõi sát sao những thay đổi về nội dung của L/C và kiểm soát bộ chứng từ nghiêm ngặt. Ngân hàng được chỉ định Trừ phi ngân hàng được chỉ định (NHĐCĐ) là NHXN, việc ủy quyền thanh toán, thương lượng thanh toán không ràng buộc thêm nghĩa vụ đối với NHĐCĐ về thanh toán hoặc thương lượng thanh toán, trừ khi có sự đồng ý rõ ràng của NHĐCĐ và được truyền đạt đến người thụ hưởng.
Bằng cách chỉ định một ngân hàng chấp nhận một hối phiếu hoặc thực hiện cam kết trả tiền sau, NHPH đã ủy quyền cho NHĐCĐ đó trả tiền trước hoặc mua một hối phiếu đã được chấp nhận hoặc thực hiện cam kết trả tiền sau của ngân hàng chỉ định đó. Tóm lại, ta có thể thấy tuỳ theo mức độ tin cậy, quan hệ đại lý của NHPH mà số lượng ngân hàng tham gia vào thanh toán L/C là rất khác nhau. - Nếu NHPH không đủ tin cậy với người bán thì họ sẽ yêu cầu L/C được xác nhận tại một ngân hàng khác, uy tín hơn. Với việc xác nhận L/C, người bán được đảm bảo thanh toán 2 lần bởi NHPH và NHXN.
Phí xác nhận là rất cao, đôi khi NHXN buộc NHPH phải ký quỹ 100% trị giá L/C. - NHTB, thường do người bán chọn để tiện cho việc giao dịch, nếu NHTB này không có quan hệ đại lý với NHPH thì xuất hiện thêm NHTB thứ 2, làm cầu nối giữa NHPH và NHTB do người thụ hưởng chọn. 8 - Nếu L/C quy định có giá trị tại bất kỳ ngân hàng nào thì thông thường người thụ hưởng sẽ xuất trình chứng từ tại NHTB. Nhưng đôi khi, L/C chỉ định một ngân hàng khác thanh toán bộ chứng từ, lúc này xuất hiện thêm ngân hàng trả tiền.