CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI VIETCOMBANK NAM SÀI GÒN 1. Ngành ngân hàng ở Việt Nam 1. Bối cảnh Ngày 6/5/1951, tại hang Bòng thuộc xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã được thành lập với những nhiệm vụ chủ yếu là: Quản lý Kho bạc Nhà nước; huy động vốn và cho vay phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hóa; Quản lý việc phát hành tiền và tổ chức lưu thông tiền tệ; Quản lý ngoại hối và đấu tranh tiền tệ với địch. Hệ thống tổ chức của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam gồm Ngân hàng trung ương và các Ngân hàng liên khu, Ngân hàng tỉnh, thành phố.
Trụ sở đầu tiên của Ngân hàng Quốc gia đặt tại huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang. Cho tới trước năm 1990 thì ngành ngân hàng Việt Nam nhìn chung không có nhiều sự thay đổi lớn, chủ yếu vẫn là các hoạt động tín dụng, thanh toán đơn giản nhằm phục vụ cho việc xây dựng chế độ Xã hội chủ nghĩa thông qua bơm vốn cho nền kinh tế tập thể, kinh tế quốc doanh. Đồng thời cũng chủ yếu phục vụ mục tiêu đảm bảo nguồn lực cho kháng chiến thống nhất đất nước. Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước thông qua 2 Pháp lệnh Ngân hàng.
Hệ thống ngân hàng bắt đầu quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, căn bản và toàn diện phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của Đảng, Nhà nước, thành lập hệ thống ngân hàng hai cấp: Ngân hàng nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước và phát hành tiền, các Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ. Sự kiện này đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Trong những năm đầu của thập niên 90, nước ta đã thành lập được bốn Ngân hàng quốc doanh với những lĩnh vực khác nhau, bao gồm: Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam; Ngân hàng Công Thương Việt Nam; Ngân hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam; Ngân hàng Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam. Các Ngân hàng thương mại cổ phần và các ngân hàng tư nhân lúc này còn rất ít.
Cho đến cuối năm 2010, hệ thống ngân hàng 6 nước ta tươn đối hoàn thiện về quy mô với 1 ngân hàng phát triển, 5 ngân hàng thương mại nhà nước, 1 ngân hàng chính sách xã hội và ngân hàng thương mại có cổ phần chi phối của Nhà nước, 37 ngân hàng thương mại cổ phần, 5 ngân hàng liên doanh, 50 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 12 công ty cho thuê tài chính, 18 công ty tài chính, 1 Quỹ Tín dụng nhân dân Trung ương, 1 tổ chức tài chính vi mô và hơn 1.000 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Mỗi Ngân hàng thương mại đều có hội sở chính và mạng lưới chi nhánh ở các tỉnh thành, quận huyện trên đất nước. Ngân hàng thương mại có quy mô mạng lưới rộng nhất là ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn với các chi nhánh và phòng giao dịch hiện diện trên khắp cả nước, kể cả những khu vực xa xôi, ít người. Nhiều ngân hàng đã mở cả các chi nhánh ở nước ngoài như ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, ngân hàng Công thương Việt Nam.
Sự thay đổi trong chiến lược kinh doanh và sản phẩm, dịch vụ theo thời gian. Bán lẻ Phân khúc ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam đã chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc trong thập kỷ qua với khoảng 40% doanh thu tại một số ngân hàng hiện nay đến từ mảng ngân hàng bán lẻ. Sự tăng trưởng ngân hàng bán lẻ này là kết quả của một số yếu tố như lạm phát và lãi suất ổn định, môi trường thuận lợi cho đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển từ thâm hụt sang thặng dư tài khoản hiện tại của Việt Nam. Các ngân hàng Việt Nam cũng tăng cường tập trung vào ngân hàng bán lẻ phù hợp với sự gia tăng lợi ích trong dịch vụ ngân hàng bán lẻ cũng như theo kịp các ưu tiên chính sách của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Ngày nay, hầu hết các ngân hàng Việt Nam coi ngân hàng bán lẻ là một phần thiết yếu trong chiến lược phát triển. Tuy nhiên, hội nhập công nghệ trong dịch vụ ngân hàng bán lẻ vẫn là một thách thức chính đối với các ngân hàng Việt Nam. Khá nhiều ngân hàng tại Việt Nam cung cấp dịch vụ ngân hàng bán lẻ tụt hậu trong việc khai thác và xử lý dữ liệu, phát triển sản phẩm, cũng như đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu và cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin. 7 Nhìn chung, triển vọng tương lai cho ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam là tích cực, có khoảng trống rộng lớn cho sự phát triển của phân khúc này ở nước ta.
Theo báo cáo có tựa đề "Số hóa tiền mặt tại ASEAN – ý nghĩa đối với các nhà quản lý nguồn vốn doanh nghiệp và người tiêu dùng trong tương lai" do Ngân hàng Standard Chartered công bố, tỷ lệ dân số trên 15 tuổi có tài khoản ngân hàng chỉ ở mức 30,8%, chỉ có khoảng 4% dân số sở hữu thẻ tín dụng, đó là cơ hội cho ngân hàng bán lẻ trong nước. Dự kiến các khoản vay cho phân khúc bán lẻ ở Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trong nhiều năm tới, bởi dân số trẻ và sự đô thị hóa diễn ra nhanh, thu nhập tăng đều đặn và xu hướng người tiêu dùng sử dụng dịch vụ tín dụng để mua hàng ngày càng tăng. Theo báo cáo, hơn 90% giao dịch giao dịch mua hàng trực tuyến tại Việt Nam thanh toán bằng tiền mặt khi nhận hàng (COD), trong khi con số này ở các nước khác dao động từ 47% đến 65%, còn ở Singapore chỉ 10%. Điều thể hiện rõ nhất của xu hướng ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam là sự ra đời hàng loạt của các công ty tài chính phục vụ tiêu dùng như FE Credit, HD Saison, Home Credit, Lotte Finance, Shinhan Finance,… Bên cạnh đó, các ngân hàng Việt Nam trong thời gian tới đều đặt trọng tâm phát triển ngân hàng bán lẻ với các sản phẩm trọng tâm như cho vay tiêu dùng, cho vay mua ô tô, thẻ tín dụng, bảo hiểm.
Rất nhiều liên minh bảo hiểm – ngân hàng (Bancasuran) đã được thành lập. Đa dạng dịch vụ Ngành ngân hàng tại Việt Nam đang dần thay đổi, thoát khỏi các nguồn thu nhập truyền thống từ cho vay và hướng tới các hoạt động phi truyền thống tạo ra thu nhập ngoài lãi vay. Thu nhập ngoài lãi vay ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu doanh thu ngân hàng. Sự thay đổi này ngoài việc đóng góp cho mức tăng doanh thu ngân hàng thì cũng có một ý nghĩa rằng nó có thể làm giảm sự biến động của lợi nhuận và doanh thu ngân hàng, và giảm thiểu rủi ro nằm ở hoạt động cho vay.
Thu nhập ngoài lãi ít phụ thuộc vào biến động thị trường so với thu nhập lãi vay truyền thống và ít bị rủi ro trong quá trình vận hành nên tạo ra sự ổn định trong hoạt động ngân hàng. Ngoài ra, các dòng sản phẩm, dịch vụ khác được mở rộng giúp ngân hàng cung cấp được cho khách hàng các gói sản phẩm toàn diện, bổ 8 trợ cho nhau và bổ trợ cho cả hoạt động cho vay, qua đó phục vụ khách hàng được tốt hơn và khai thác tối đa nhu cầu khách hàng, mang lại nguồn lợi lớn hơn ngân hàng. Ngoài ra việc đa dạng hóa sản phẩm ngoài cho vay đang giúp các ngân hàng giảm áp lực về vốn tự có, điều mà Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức xếp hạng đang áp dụng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe (tiêu chuẩn Basel 2). Đa dạng hóa sản phẩm cũng chính là đa dạng danh mục đầu tư ngân hàng, giúp tránh tập trung rủi ro quá mức ở một hoạt động.
Do đó, ngay cả thời điểm khó khăn nhất của nền kinh tế thì các gói sản phẩm cũng giúp ngân hàng duy trì được hoạt động, giảm lệ thuộc vào cho vay truyền thống. Ngân hàng điện tử Ngân hàng số và tài chính số đang đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sắp tới trên thế giới. Tại Việt Nam, cuộc đua sinh tồn trong lĩnh vực ngân hàng đang trở nên rất quyết liệt. Các công nghệ đã giúp loại bỏ nhiều rào cản cho các tổ chức tài chính và ngân hàng thương mại có thể cung cấp dịch vụ, tạo ra các sản phẩm dễ tiếp cận hơn cho khách hàng ở mức giá thấp hơn.
Hơn nữa, các tổ chức tài chính này cũng đang đóng góp đang kể trong việc giảm các khoản thanh toán tiền mặt trên thị trường. Theo dữ liệu mới nhất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, khoản đầu tư vốn cho công nghệ trong ngành ngân hàng liên tục tăng. Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã hoàn thành Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cho toàn bộ ngành ngân hàng với tổng giá trị 72 triệu USD, tương đương hơn 1,5 ngàn tỷ đồng. Dự án được đầu tư ở ba phần bao gồm Ngân hàng Nhà nước, bảo hiểm tiền gửi và hệ thống CIC.
Hiện tại, số hóa trong dịch vụ cung cấp và hoạt động quản trị đang là một cuộc đua giữa các ngân hàng. Các ngân hàng ở Việt Nam cần đẩy nhanh thực hiện các bước trong việc xây dựng một hệ thống công nghệ thông tin toàn diện trước khi ngân hàng nước ngoài xâm nhập và dần dần giành được thị phần. Xu hướng cạnh tranh này đã và sẽ tiếp tục mở ra những cơ hội mới cho ngành ngân hàng tại Việt Nam. Dự báo đến cuối năm 2020, khoảng 40% giao dịch ngân hàng sẽ được thực 9 hiện thông qua mạng internet và thiết bị di động và khoảng hai phần ba hoạt động ngân hàng sẽ được thực hiện bởi hệ thống công nghệ thông tin.
Các ứng dụng công nghệ số đã cho phép các ngân hàng tăng lợi nhuận của họ trong phân khúc bán lẻ lên tới 45%. Sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã dẫn đến phát triển ngân hàng số và ngành ngân hàng Việt Nam không nằm ngoài xu hướng này. Thu nhập từ hoạt động tín dụng của các ngân hàng đang giảm, sự phát triển các sản phẩm và dịch vụ dựa trên công nghệ là cần thiết để tăng tỷ lệ sử dụng các dịch vụ, qua đó tăng phí trong tổng số thu nhập.