đặt vấn đề UTGT là mối quan tâm hàng đầu, chỉ đạo các nhà khoa học, Bộ, ban ngành tập trung nghiên cứu, tìm hiểu bản chất của vấn đề UTGT để từng bƣớc khắc phục. Hầu hết các quốc gia đều tự mình đƣa ra cách nhận thức riêng của mình về khái niệm, phân loại UTGT. Việc tiếp cận vấn đề UTGT theo quan điểm khác nhau của các nƣớc trên thế giới giúp cho những nhà chuyên môn của Việt Nam có thể hiểu rõ hơn và đƣa ra đƣợc một sự thống nhất trong cách hiểu về vấn đề này. Từ đó, trong công tác quản lý TTATGT, kiềm chế ùn tắc giao thông, lực lƣợng CSGT và các ban ngành có cơ sở để 15 thực thi công việc, đánh giá đúng mức độ UTGT để triển khai nhiệm vụ; làm tốt công tác báo cáo, thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu về UTGT; tạo ra khả năng hòa nhập trong điều kiện hợp tác quốc tế với các quốc gia khác.1 Khái niệm về ùn tắc giao thông.
Có thể hiểu về UTGT nhƣ sau: “Ùn tắc giao thông là một tình trạng giao thông không bình thường xảy ra ở một thời điểm nhất định của hoạt động giao thông mà ở thời điểm đó khả năng thông qua thực tế của kết cấu hạ tầng giao thông không đáp ứng được nhu cầu của hoạt động giao thông, gây cản trở đến hoạt động bình thường của các đối tượng tham gia giao thông”. Nhƣ vậy, khái niệm cơ bản đã làm rõ tình trạng không bình thƣờng xảy ra khi UTGT và diễn giải tình trạng này chủ yếu xảy ra khi kết cấu hạ tầng giao thông không đáp ứng đƣợc nhu cầu tham gia giao thông trong thực tế. Tuy nhiên, nếu sử dụng khái niệm trên thì trong nhiều trƣờng hợp sẽ không đánh giá đúng mức độ nghiêm trọng của tình trạng UTGT. Vì vậy mới xảy ra cuộc tranh luận khi một Giám đốc Sở GTVT cho rằng dòng phƣơng tiện phải đứng yên, không di chuyển trên 30 phút mới là UTGT.
Tại Nhật Bản, ngƣời ta sử dụng hai thuật ngữ “ùn giao thông” [traffic congestion], “tắc nghẽn giao thông” [traffic jam] và đƣợc phân biệt một cách cụ thể. Định nghĩa ùn giao thông [traffic congestion]: “Ùn giao thông” là đại lượng mang tính cảm giác của người lái xe để biểu thị cảm giác của trạng thái đông đúc của giao thông. Thông thường, ùn giao thông là trạng thái người tham gia giao thông không thể tăng tốc như mong muốn do xe phía trước đi chậm. Định nghĩa tắc nghẽn giao thông [traffic jam]: “Tắc nghẽn giao thông” là một đại lượng vật lý biểu hiện tình trạng đông đúc.
Đó là trạng thái giao thông xảy ra khi nhu cầu về giao thông vượt quá khả năng thông qua làm xuất hiện hàng dài chờ đợi. Với sự phân biệt rõ hai khái niệm ùn giao thông và tắc nghẽn giao thông thì không chỉ những ngƣời làm công tác quản lý mà cả ngƣời dân cũng dễ dàng hiểu một cách thấu đáo vấn đề, tránh tình trạng nhầm lẫn. Tại Châu Âu, ngƣời ta sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau về UTGT nhƣ: [traffic congestion], [traffic jam], [(traffic) deadlock], [traffĩc snarl], [back up], [gridlock]. Và cho đến nay, chƣa có một thuật ngữ nào đƣợc sử dụng một cách chính thống.
Trong tài liệu Hội nghị Bộ trƣởng Bộ GTVT các nƣớc châu Âu về vấn đề quản lý UTGT đô thị , vấn đề UTGT đƣợc hiểu theo 3 khía cạnh nhƣ sau: Ùn tắc giao thông là trình trạng trong đó các phƣơng tiện cản trở lẫn nhau giữa các dòng giao thông trong điều kiện khả năng lƣu thông bị giới hạn (Congestion is the impedance vehicles imposeon each other, due to the 16 speed-flow relationship, in conditions where the use of a transport system approaches its capacity). Ùn tắc giao thông là tình trạng trong đó nhu cầu về không gian đƣờng vƣợt quá sự đáp ứng (Congestion is a situation in which demand for road space exceeds supply). Ùn tắc giao thông là một hiện tƣợng tƣơng đối liên quan đến sự khác biệt giữa năng lực đáp ứng nhƣ mong đợi và khả năng đáp ứng thực tế của hệ thống đƣờng bộ (Congestion is essentially a relative phenomenon that is linked to the difference between the roadway system performance that users expect and how the system actually performs). Trong đó, khía cạnh thứ hai đƣợc sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu khác của các nƣớc: luận văn Thạc sỹ của tác giả Wenjie Zhang bảo vệ năm 2011 tại trƣờng Đại học công nghệ thuộc Cơ quan quy hoạch và phát triển vùng của Châu Âu đã nghiên cứu về quản lý giao thông ở thành phố Hàng Châu, Trung Quốc.
Tác giả cũng sử dụng khái niệm UTGT là “Ùn tắc giao thông là tình trạng trong đó nhu cầu về không gian đường vượt quá sự đáp ứng”. Nhƣ vậy, mỗi quốc gia trên thế giới đều có cái nhìn riêng về khái niệm ùn tắc giao thông. Tuy vậy, đều hƣớng tới sự việc là khả năng lƣu thông của phƣơng tiện bị kém đi do kết cấu hạ tầng giao thông không đáp ứng đƣợc nhu cầu.2 Đặc điểm của ùn tắc giao thông trong đô thị. Ùn tắc giao thông trong đô thị phần lớn tập trung vào một số giờ cao điểm( giờ đi làm, đi học của học sinh- sinh viên…) Nhìn chung đa số ùn tắc giao thông tập trung chủ yếu tại các nút giao thông nhất định, có tính thƣờng xuyên và lặp đi lặp lại nhiều lần Ùn tắc giao thông trong đô thị có tính dây truyền khá cao.
Tức là một con đƣờng chính bị tắc thì hầu nhƣ các đƣờng nhỏ thông với nó cũng bị tắc nghẽn gây ra tắc nghẽn trên diện rộng Hình thức ùn tắc có dạng nút chai, khi nút giao thông đã bị tắc nghẽn nếu không đƣợc giải quyết nhanh chóng thì cùng với dòng ngƣời đổ về nút giao thông sẽ càng bít hơn nữa “nút chai” lại và phải mất khá lâu mới có thể lƣu thông 1.3 Tiêu chí xác định ùn tắc giao thông. Tiêu chí xác định tình trạng ùn tắc giao thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh theo văn bản số 2410/UBND-ĐT ngày 25/04/2017 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cần đảm bảo các yêu cầu nhƣ sau: Tiêu chí xác định tình trạng ùn tắc giao thông phù hợp với đặc thù giao thông, tình hình giao thông thực tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; 17 Xác định tình trạng ùn tắc giao thông trên cơ sở khoa học, có định lƣợng các thông số cơ bản của dòng giao thông nhƣ vận tốc dòng xe, chiều dài hàng đợi, lƣu lƣợng, mật độ…; Đảm bảo đầy đủ các trang thiết bị, công cụ và phƣơng pháp cụ thể để xác định các thông số theo tiêu chí ùn tắc giao thông. Qua tổng hợp các thông số thu thập đƣợc và tiến hành phân tích, thống kê cũng nhƣ có tham khảo việc xác định tình trạng giao thông một số nƣớc trên thế giới, Sở Giao thông vận tải đã xây dựng Bộ tiêu chí xác định tình trạng ùn tắc giao thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể nhƣ sau: Bộ tiêu chí đánh giá (*) 1. Vận tốc trung bình dòng xe ≤ 5km/h (thấp hơn vận tốc Tình trạng ùn tắc của ngƣời đi bộ).
Tình trạng kéo dài trong thời gian trên 30 phút. Chiều dài dòng xe kéo dài 200m-300m. Ngoài ra, Sở Giao thông vận tải vẫn thƣờng xuyên cập nhật và thống kê đầy đủ tình trạng giao thông ở các mức độ khác (mức độ 1, 2, 3) để phục vụ công tác quản lý và điều hành giao thông đô thị. * Phƣơng pháp xác định các thông số đánh giá: Vận tốc trung bình dòng xe ≤ 5km/h trên các tuyến đƣờng đƣợc xác định thông qua 02 phƣơng pháp: Xác định vận tốc trung bình dòng xe dựa vào thống kê, phân tích dữ liệu giám sát hành trình (GPS) của các phƣơng tiện kinh doanh vận tải nhƣ xe tải, xe khách, xe taxi và xe buýt (hơn 60.000 phƣơng tiện kinh doanh vận tải lƣu thông trên địa bàn Thành phố).
Xác định vận tốc trung bình dòng xe dựa vào phân tích hình ảnh từ dữ liệu camera giao thông đƣợc lắp đặt trên đƣờng (471 camera giao thông đã kết nối về Trung tâm điều khiển). Tình trạng kéo dài trong thời gian trên 30 phút đƣợc giám sát, theo dõi từ hệ thống quản lý tự động trên nền bản đồ số từ Trung tâm điều khiển giao thông đặt tại Trung tâm Quản lý đƣờng hầm sông Sài Gòn. Chiều dài dòng xe kéo dài 200-300m đƣợc xác định dựa vào phân tích dữ liệu hình ảnh từ hệ thống camera giao thông đƣợc lắp đặt trên đƣờng kết hợp với dữ liệu giám sát hành trình đƣợc tính toán trên bản đồ số giao thông.4 Quản lý ùn tắc giao thông. Từ ngày 19/01/2017, Cổng thông tin giao thông Thành phố Hồ Chí Minh đƣợc chính thức đƣa vào hoạt động nhằm cung cấp cho ngƣời dân các thông tin về tình trạng giao thông trên địa bàn Thành phố.
Tuy nhiên, từ giữa năm 2016, Sở Giao thông vận tải đã triển khai nghiên cứu, theo dõi các thông số của dòng 18 giao thông các khu vực, tuyến đƣờng trọng điểm trên địa bàn Thành phố thông qua hệ thống camera giám sát giao thông (471 camera giao thông), dữ liệu về vận tốc từ thiết bị giám sát hành trình phƣơng tiện (hơn 60.000 phƣơng tiện xe buýt, xe taxi, xe kinh doanh vận tải…) đƣợc tích hợp về Trung tâm điều khiển giao thông đặt tại Trung tâm Quản lý đƣờng hầm sông Sài Gòn thuộc Sở Giao thông vận tải. Qua đó, Sở Giao thông vận tải đã thu thập và thống kê tốc độ lƣu thông trung bình tại một số khu vực trên địa bàn Thành phố cụ thể nhƣ sau: Khu vực trung tâm Thành phố: giờ cao điểm sáng (20,7 km/h), giờ cao điểm chiều (19,3 km/h), giờ thấp điểm (20,9 km/h); Khu vực sân bay Tân Sơn Nhất: giờ cao điểm sáng (22,3 km/h), giờ cao điểm chiều (20,3 km/h), giờ thấp điểm (21,7 km/h); Khu vực cảng Cát Lái: giờ cao điểm sáng (30 km/h), giờ cao điểm chiều (29 km/h), giờ thấp điểm (30,5 km/h). Hiện nay, Sở Giao thông vận tải đang quản lý tình trạng giao thông trên đƣờng bộ đang khai thác với 04 mức độ (từ mức độ 1 đến mức độ 4) tƣơng ứng với 04 màu sắc thể hiện tình trạng giao thông trên Cổng thông tin giao thông Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể nhƣ sau: Mức độ 1 (màu xanh): Lƣu thông bình thƣờng tƣơng ứng với vận tốc lƣu thông của dòng xe > 10Km/h.
Mức độ 2 (màu cam): Lƣu thông khó khăn tƣơng ứng với vận tốc lƣu thông của dòng xe từ 5-10Km/h, tình trạng kéo dài trên 10 phút.