Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế tại Việt Nam đã mang lại nhiều chuyển biến tích cực cho đời sống xã hội; tuy nhiên, khoảng cách phân hóa và tình trạng nghèo đói tại các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa vẫn còn là thách thức lớn. Xã Hảo Đước là một xã thuần nông thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, nơi có hơn 90% số hộ dân sinh sống dựa vào nông nghiệp, cơ cấu kinh tế phi nông nghiệp kém phát triển, điều kiện đất đai chủ yếu là đất xám bạc màu và phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Dù tỷ lệ hộ nghèo đã giảm qua các năm, đời sống của một bộ phận nông dân tại địa phương vẫn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn về tư liệu sản xuất và vốn liếng.
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Phát triển nông thôn - Khuyến nông của sinh viên Huỳnh Hữu Trọng (Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy Trần Anh Kiệt) được triển khai nhằm phân tích toàn diện thực trạng nghèo và đề xuất các giải pháp giảm nghèo khả thi cho địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu
- Khảo sát tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa bàn xã Hảo Đước.
- Tìm hiểu đời sống, tình hình sản xuất của các nông hộ nghèo.
- Xác định các nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng nghèo đói ở xã.
- Đánh giá sự ảnh hưởng và hiệu quả hoạt động của Chương trình Xóa đói giảm nghèo (XĐGN) tại địa phương.
- Dựa vào tiềm năng thực tế của xã để xây dựng các giải pháp giảm nghèo bền vững.
Câu hỏi nghiên cứu
- Vì sao trên địa bàn xã Hảo Đước vẫn còn tồn tại các hộ nghèo?
- Giữa hộ nghèo và hộ không nghèo có sự khác biệt như thế nào về điều kiện sản xuất và điều kiện sinh hoạt?
- Những nguyên nhân cốt lõi nào dẫn đến nghèo đói tại địa phương?
- Những giải pháp nào cần được thực hiện để đẩy mạnh công tác giảm nghèo trên địa bàn xã?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nông hộ nghèo, nông hộ không nghèo (đối chứng) và các hoạt động của Ban chỉ đạo Xóa đói giảm nghèo tại xã Hảo Đước.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn xã Hảo Đước, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (bao gồm 4 ấp: Ấp Bàu Sen, Ấp Trường, Ấp Cầu Trường và Ấp Bình Lợi).
- Phạm vi thời gian: Khóa luận được thực hiện từ ngày 16/07/2007 đến ngày 15/10/2007; các dữ liệu thứ cấp được thu thập và phân tích trong giai đoạn 2004 - 2006.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý luận và các khung khái niệm
Tác giả xây dựng nghiên cứu dựa trên các lý thuyết và khái niệm kinh tế - xã hội học thuật:
- Quan niệm về đói nghèo: Trích dẫn luận điểm của Adam Smith (1776) về mối quan hệ giữa sự phồn vinh của xã hội và đời sống người dân; định nghĩa nghèo đói của Hội nghị ESCAP (Bangkok, 1993). Đề tài phân định rõ ràng giữa đói kinh niên, đói gay gắt cấp tính; nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
- Mô hình Vòng luẩn quẩn nghèo đói: Phản ánh mối quan hệ nhân quả khép kín: Thu nhập thấp $\rightarrow$ Mức sống thấp, thiếu tư liệu sản xuất và thiếu vốn $\rightarrow$ Đầu tư sản xuất thấp $\rightarrow$ Năng suất lao động và cây trồng thấp $\rightarrow$ Thu nhập tiếp tục thấp.
- Chuẩn nghèo áp dụng:
- Chuẩn quốc tế: Chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm theo tiêu chuẩn 2.100 kcal/người/ngày của WB/WHO và chuẩn nghèo chung.
- Chuẩn quốc gia giai đoạn 2006 - 2010 (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội): Vùng nông thôn là mức thu nhập từ 200.000 đồng/người/tháng trở xuống (dưới 2.400.000 đồng/người/năm); thành thị là 260.000 đồng/người/tháng trở xuống.
- Chuẩn nghèo địa phương: Áp dụng chuẩn nông thôn 200.000 đồng/người/tháng để lập danh sách quản lý tại xã Hảo Đước.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các văn bản, số liệu thống kê và báo cáo tổng kết giai đoạn 2004 - 2006 của UBND xã Hảo Đước, Phòng Thống kê huyện Châu Thành, Phòng Địa chính, Phòng Nông nghiệp, Ban chỉ đạo XĐGN và Ban Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) xã.
- Nguồn dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua điều tra phỏng vấn trực tiếp 80 nông hộ tại 4 ấp của xã bằng bảng câu hỏi soạn sẵn, cơ cấu mẫu khảo sát bao gồm:
- 40 hộ nghèo (thuộc danh sách quản lý của Ban chỉ đạo XĐGN xã).
- 40 hộ không nghèo (nhóm đối chứng phân bố đều trên địa bàn).
- Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Số liệu được tổng hợp, phân loại và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel. Đề tài kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh đối chiếu và phân tích kinh tế vi mô nông hộ.
- Hệ thống chỉ tiêu đánh giá:
- Doanh thu: $\text{DT} = \text{Năng suất} \times \text{Đơn giá}$
- Tổng chi phí sản xuất: $\text{TCPSX} = \text{Chi phí vật chất (CPVC)} + \text{Chi phí lao động (CPLĐ)} + \text{Lãi vay}$
- Lợi nhuận: $\text{LN} = \text{DT} - \text{TCPSX}$
- Thu nhập: $\text{TN} = \text{DT} - \text{TCPSX (không tính công lao động gia đình)}$
- Tỷ suất lợi nhuận/chi phí và Tỷ suất thu nhập/chi phí.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương mở đầu trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh xã hội nông thôn Tây Ninh; xác định 5 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, 4 câu hỏi định hướng; giới hạn không gian tại xã Hảo Đước, thời gian thực hiện đề tài từ tháng 07/2007 đến tháng 10/2007 và tóm tắt kết cấu 5 chương của khóa luận.
Chương 2: Tổng quan
Chương 2 cung cấp bức tranh toàn cảnh về địa bàn nghiên cứu:
- Điều kiện tự nhiên: Tổng diện tích tự nhiên của xã là 3.650 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 3.372 ha (92,38%). Đất xám chiếm 2.170 ha (59,45% diện tích), gồm đất xám điển hình (810 ha) có độ phì thấp nhất, đất xám có tầng loang lổ (600 ha), đất xám có kết von (450 ha) và kết von đọng mùn (310 ha). Nhóm đất phù sa ven sông Vàm Cỏ Đông chiếm 1.480 ha (40,55%). Địa hình chia làm vùng cao (1.200 ha - 32,88%) dễ xói mòn và vùng trung bình thấp (2.450 ha - 67,12%). Khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với khoảng 3.000 giờ nắng/năm, nhiệt độ bình quân 28°C, lượng mưa bình quân 1.700 mm tập trung vào mùa mưa (mùa khô chỉ chiếm 11% tổng lượng mưa).
- Điều kiện xã hội: Năm 2006, toàn xã có 2.010 hộ với 9.154 nhân khẩu (dân tộc Kinh chiếm 97,16%, Khơmer chiếm 2,49% với 57 hộ/228 người). Về tôn giáo, Cao Đài chiếm 49,23%, Phật giáo 37,71%, Thiên Chúa giáo 13,05%. Lực lượng trong độ tuổi lao động có 4.116 người (lao động nông nghiệp chiếm 3.168 người - 76,97%; phi nông nghiệp có 948 người - 23,03%).
- Cơ sở hạ tầng & Giáo dục - Y tế: Toàn xã có 7 trường học (1 mẫu giáo, 5 tiểu học, 1 THCS với tổng số 1.911 học sinh), không có trường THPT nên tỷ lệ học sinh dừng học sau cấp 2 chiếm hơn 50%. Mạng lưới điện lưới phủ 4/4 ấp đạt trên 99% hộ sử dụng; người dân chủ yếu dùng nước giếng đào và khoan. Trạm y tế xã có 6 phòng với 6 cán bộ chuyên môn.
- Kinh tế nông nghiệp: Năm 2006, diện tích trồng lúa đạt 1.221 ha (giảm 29 ha so với 2005), mì đạt 170 ha (giảm 59,5 ha), trong khi mía tăng vọt lên 414 ha (tăng 155 ha nhờ sự đầu tư và bao tiêu của Công ty Mía đường Bourbon). Đàn trâu bò đạt 1.600 con (tăng 400 con), đàn heo giảm còn 650 con và gia cầm giảm còn 5.000 con do dịch bệnh cúm gia cầm.
- Thực trạng và diễn biến hộ nghèo 2004 - 2006:
- Năm 2004: 155 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 8,24%.
- Năm 2005: 137 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 7,02% (giảm 18 hộ).
- Năm 2006: 110 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 5,47% (giảm 27 hộ; trong đó 22 hộ chuẩn Trung ương và 88 hộ chuẩn địa phương).
- Phân bố hộ nghèo theo địa bàn năm 2006: Ấp Bình Lợi có tỷ lệ và số hộ nghèo cao nhất (60 hộ, chiếm 54,55% tổng số hộ nghèo toàn xã, tỷ lệ nghèo nội ấp là 11,76%) do địa hình gò cao, đất xám xói mòn, thiếu hệ thống thủy lợi nội đồng; tiếp theo là Ấp Bàu Sen (21 hộ - 19,09%), Ấp Trường (17 hộ - 15,45%) và Ấp Cầu Trường có số hộ nghèo thấp nhất (12 hộ - 10,91%).
- Tổ chức Chương trình XĐGN xã: Ban chỉ đạo gồm 10 thành viên do Phó Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban, Phó Chủ tịch Hội Nông dân làm Phó ban. Quy trình bình xét thực hiện qua 4 bước từ điều tra, họp thôn ấp bình xét, lập danh sách đến rà soát báo cáo cấp huyện, tỉnh.
Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương hệ thống hóa các định nghĩa khoa học về đói nghèo, phân tích bản chất của vòng luẩn quẩn nghèo đói trong nông nghiệp; thuyết minh phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý và phương pháp điều tra chọn mẫu 80 hộ nông dân tại địa phương; trình bày công thức xác định các chỉ tiêu kinh tế nông hộ và phương pháp so sánh nhóm.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 tập trung vào việc phân tích dữ liệu khảo sát thực tế và đánh giá hiệu quả chính sách:
- Tác động của điều kiện tự nhiên và hạ tầng: Đất đai bạc màu, thiếu nước tưới trong mùa khô và mạng lưới giao thông liên ấp chủ yếu là đường đất đỏ lầy lội trong mùa mưa làm tăng chi phí vận chuyển nông sản, cản trở phát triển kinh tế.
- So sánh thực trạng giữa 40 hộ nghèo và 40 hộ không nghèo:
- Nhân khẩu và lao động: Hộ nghèo có số nhân khẩu đông (trong 40 hộ khảo sát có 10 hộ quy mô 5 người và 23 hộ quy mô 6 người), tỷ lệ phụ thuộc cao nhưng thiếu lao động chính tạo ra thu nhập.
- Trình độ học vấn chủ hộ: Đa số chủ hộ nghèo chỉ biết đọc biết viết hoặc chưa học hết tiểu học; số chủ hộ tốt nghiệp cấp 2 là 13 người, tốt nghiệp cấp 3 chỉ có 2 người.
- Tư liệu sản xuất và đất đai: Hộ nghèo sở hữu diện tích đất canh tác rất nhỏ, đất kém màu mỡ; nhiều hộ phải chuyển nhượng đất đai để trang trải nợ nần khi gặp thất bại trong sản xuất hoặc biến cố đau ốm.
- Mô hình canh tác và cơ cấu thu nhập: Hộ nghèo chủ yếu tham gia mô hình Lúa - Mì (9 hộ), ít tham gia mô hình Mì - Bò (chỉ 4 hộ so với 16 hộ của nhóm không nghèo) và hoàn toàn không có khả năng tham gia mô hình vườn cây ăn trái lâu năm (nhãn, sầu riêng). Về chăn nuôi, hộ nghèo chỉ có 4 hộ nuôi bò (tổng đàn 11 con), trong khi nhóm không nghèo có 16 hộ nuôi bò (36 con) và có hầm Biogas xử lý chất thải. Có 22 hộ nghèo phải đi làm thuê thời vụ, không có hộ nào có thu nhập từ lương nhà nước và chỉ có 2 hộ buôn bán quán nước nhỏ.
- Xác định 4 nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nghèo:
- Thiếu đất sản xuất: Diện tích canh tác manh mún, đất xấu, bán dần đất do thiếu vốn đầu tư.
- Thiếu vốn sản xuất: Không có tích lũy tài chính ban đầu; mức vốn vay từ Quỹ XĐGN tối đa chỉ đạt 7 triệu đồng/hộ, chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư dài hạn; nông hộ nghèo không có tài sản thế chấp để tiếp cận vốn ngân hàng thương mại.
- Hạn chế về trình độ học vấn và tiếp cận thông tin KHKT: Trình độ thấp dẫn đến thói quen canh tác theo tập quán cũ, chậm tiếp thu kỹ thuật mới và hạn chế hiểu biết thị trường.
- Gia đình đông con: Tư tưởng sinh nhiều con khiến chi phí sinh hoạt tăng cao, con cái phải bỏ học sớm để phụ giúp gia đình.
- Kết quả thực hiện Chương trình XĐGN giai đoạn 2004 - 2006:
- Số hộ thoát nghèo tăng đều qua các năm: Năm 2004 thoát 13 hộ (8,39%), năm 2005 thoát 20 hộ (14,60%), năm 2006 thoát 27 hộ (24,55%). Số hộ nghèo phát sinh và tái nghèo giảm về mức 0 vào năm 2006.
- Hoạt động tín dụng ưu đãi đã giải ngân 316 lượt hộ nghèo vay vốn từ Ngân hàng Chính sách Xã hội.
- Hỗ trợ an sinh xã hội: Cải thiện nhà ở cho 4 hộ chính sách và hộ nghèo (26 triệu đồng), xây dựng 1 nhà tình nghĩa và 3 nhà tình thương (5 triệu đồng/căn), cấp thẻ BHYT miễn phí cho toàn bộ hộ nghèo.
- Chuyển giao kỹ thuật: Xây dựng 2 mô hình trình diễn mía tại ấp Bàu Sen và Bình Lợi đạt sản lượng 100 tấn/ha; tổ chức hội thảo hướng dẫn phòng trừ bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá cho 120 lượt người tham dự.
- Đầu tư xây dựng cơ bản hạ tầng nông thôn đạt 1,05 tỷ đồng (nguồn vốn địa phương đối ứng 589 triệu đồng, chiếm 56,1%).
- Hệ thống 5 giải pháp giảm nghèo do tác giả đề xuất:
- Đẩy mạnh tuyên truyền công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình thông qua Hội Phụ nữ và hệ thống truyền thanh xã.
- Nâng cao hiệu quả công tác khuyến nông, xây dựng thêm các mô hình trình diễn thực tế và tăng cường cán bộ bám sát địa bàn.
- Mở rộng quy mô hỗ trợ vốn tín dụng: Tăng hạn mức vay vượt mức 7 triệu đồng, kéo dài chu kỳ vay vốn phù hợp với chu kỳ cây trồng, vật nuôi và hướng dẫn nông dân lập phương án sản xuất hiệu quả.
- Giải quyết việc làm thông qua việc du nhập ngành nghề tiểu thủ công nghiệp mây tre đan từ làng nghề xã Long Thành Trung (huyện Hòa Thành, cách 15 km), đào tạo nghề trong 4 tháng, tạo việc làm tại chỗ với mức thu nhập làm thuê ước tính khoảng 1.000.000 đồng/người/tháng.
- Tăng cường chính sách giáo dục cho thế hệ trẻ, thực hiện miễn giảm học phí cho học sinh nghèo để ngăn chặn triệt để tình trạng bỏ học sau cấp 2.
Chương 5: Kết luận và đề nghị
Tổng kết các kết quả nghiên cứu chính và đưa ra các kiến nghị đối với Nhà nước (tăng cường đầu tư hạ tầng nông thôn vùng sâu), đối với chính quyền Xã (chủ động liên kết đào tạo nghề, huy động vốn, đổi mới khuyến nông) và đối với Bản thân người dân (nỗ lực vươn lên, sử dụng vốn đúng mục đích, tránh tệ nạn xã hội và chú trọng cho con em đến trường).
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính kèm số liệu thực tế
| Chỉ tiêu theo dõi |
Năm 2004 |
Năm 2005 |
Năm 2006 |
| Tổng số hộ toàn xã (hộ) |
1.881 |
1.951 |
2.010 |
| Tổng số hộ nghèo (hộ) |
155 |
137 |
110 |
| Tỷ lệ hộ nghèo toàn xã (%) |
8,24 |
7,02 |
5,47 |
| Số hộ thoát nghèo trong năm (hộ) |
13 |
20 |
27 |
| Tỷ lệ thoát nghèo (%) |
8,39 |
14,60 |
24,55 |
| Số hộ nghèo phát sinh mới (hộ) |
2 |
1 |
0 |
| Số hộ tái nghèo (hộ) |
0 |
1 |
0 |
Bảng so sánh đặc điểm kinh tế - xã hội giữa nhóm hộ nghèo và hộ không nghèo (Mẫu khảo sát n = 80)
| Đặc điểm so sánh |
Nhóm hộ nghèo ($n = 40$) |
Nhóm hộ không nghèo ($n = 40$) |
| Quy mô nhân khẩu |
Phổ biến 5 - 6 người/hộ (10 hộ 5 người, 23 hộ 6 người) |
Quy mô gia đình nhỏ hơn, ít nhân khẩu phụ thuộc |
| Trình độ học vấn chủ hộ |
Chủ yếu biết đọc/viết; cấp 2: 13 người, cấp 3: 2 người |
Trình độ học vấn phổ thông cao hơn |
| Tư liệu đất đai |
Diện tích rất nhỏ, đất xám xấu, nhiều hộ đã bán đất |
Diện tích đất lớn hơn, đất đai màu mỡ |
| Mô hình sản xuất chính |
Trồng lúa, mì (9 hộ); Mì - Nuôi bò (4 hộ) |
Mì - Nuôi bò (16 hộ); Vườn cây lâu năm (4 hộ) |
| Chăn nuôi bò |
4 hộ nuôi với 11 con (quy mô nhỏ) |
16 hộ nuôi với 36 con (quy mô lớn, có Biogas) |
| Nguồn thu nhập phụ |
22 hộ đi làm thuê nông nghiệp mùa vụ; 0 hộ có lương |
3 hộ làm thuê; 4 hộ có lương nhà nước |
| Hoạt động dịch vụ |
2 hộ (quán nước nhỏ) |
5 hộ (cà phê quy mô lớn, đại lý phân bón/BVTV, tiệc cưới) |
Đóng góp của đề tài
- Khóa luận đã phân tích chi tiết dữ liệu thực địa tại cấp xã thuần nông của tỉnh Tây Ninh, làm rõ mối tương quan giữa điều kiện thổ nhưỡng (đất xám bạc màu) với sự phân bố hộ nghèo theo không gian địa lý (tập trung cao nhất tại ấp Bình Lợi với 54,55% tổng số hộ nghèo của xã).
- Đề xuất giải pháp mang tính khả thi thực tế cao về việc chuyển giao nghề mây tre đan dựa trên lợi thế địa lý gần nguồn nguyên liệu tầm vông và liên kết với Hợp tác xã mây tre đan tại xã lân cận (Long Thành Trung, Hòa Thành) để tạo sinh kế phi nông nghiệp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Khóa luận được thực hiện trong khung thời gian 3 tháng (từ tháng 07/2007 đến tháng 10/2007).
- Quy mô mẫu khảo sát trực tiếp dừng lại ở 80 hộ (40 hộ nghèo và 40 hộ không nghèo) trên tổng thể 2.010 hộ của toàn xã, phạm vi không gian giới hạn trong phạm vi một xã đơn lẻ (Hảo Đước).
- Phương pháp phân tích số liệu chủ yếu sử dụng thống kê mô tả và so sánh chéo trên Excel, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng hồi quy đa biến để định lượng mức độ tác động của từng yếu tố đến thu nhập.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát liên xã hoặc toàn huyện Châu Thành để có cơ sở so sánh đa chiều giữa các tiểu vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau.
- Thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) nhằm đánh giá mức độ bền vững của các hộ đã thoát nghèo và tác động lâu dài của các mô hình sinh kế phi nông nghiệp.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Khuyến nông, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý công và Xã hội học nông thôn.
- Nội dung tham khảo nổi bật:
- Mẫu phiếu điều tra nông hộ hoàn chỉnh phục vụ nghiên cứu mức sống, thu nhập, chi tiêu và phân loại đói nghèo nông thôn.
- Phương pháp luận kết hợp giữa số liệu hành chính cấp xã với dữ liệu khảo sát thực địa đối chứng (nhóm nghèo và không nghèo).
- Quy trình quản lý, bình xét và vận hành chương trình giảm nghèo tại chính quyền cơ sở cấp xã.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ hộ nghèo tại xã Hảo Đước đã thay đổi như thế nào trong giai đoạn 2004 - 2006?
Theo số liệu thống kê của Ban chỉ đạo XĐGN xã, tỷ lệ hộ nghèo giảm liên tục qua 3 năm:
- Năm 2004: 155 hộ nghèo, chiếm 8,24% tổng số hộ.
- Năm 2005: 137 hộ nghèo, chiếm 7,02% tổng số hộ (giảm 18 hộ).
- Năm 2006: 110 hộ nghèo, chiếm 5,47% tổng số hộ (giảm 27 hộ). Tỷ lệ thoát nghèo đạt 24,55% vào năm 2006.
2. Ấp nào tại xã Hảo Đước có số lượng hộ nghèo nhiều nhất năm 2006 và nguyên nhân do đâu?
Ấp Bình Lợi có số hộ nghèo cao nhất toàn xã với 60 hộ nghèo (chiếm 54,55% tổng số hộ nghèo của xã; tỷ lệ nghèo nội ấp là 11,76%). Nguyên nhân là do ấp Bình Lợi nằm cách xa trung tâm xã về phía Bắc, có địa hình gò tương đối cao, đất đai bị xói mòn và rửa trôi mạnh, hệ thống kênh mương nội đồng kém phát triển dẫn đến tình trạng thiếu nước canh tác nghiêm trọng trong mùa khô.
3. Chuẩn nghèo được áp dụng để xác định hộ nghèo tại địa phương trong giai đoạn nghiên cứu là bao nhiêu?
Địa phương áp dụng chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2006 - 2010 theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho khu vực nông thôn: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng trở xuống (tương đương dưới 2.400.000 đồng/người/năm) được xếp vào diện hộ nghèo.
4. Khóa luận chỉ ra những nguyên nhân cốt lõi nào dẫn đến nghèo đói tại xã Hảo Đước?
Qua khảo sát thực tế, 4 nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đói được chỉ ra gồm:
- Thiếu đất sản xuất (đất canh tác diện tích nhỏ, bạc màu hoặc phải bán đất trang trải nợ nần).
- Thiếu vốn sản xuất (không có tích lũy, mức vay vốn ưu đãi tối đa 7 triệu đồng/hộ chưa đủ cho đầu tư dài hạn).
- Hạn chế về trình độ học vấn và tiếp cận thông tin kỹ thuật nông nghiệp.
- Quy mô gia đình đông con dẫn đến gánh nặng chi phí ăn học và thiếu hụt lao động chính.
5. Tác giả đề xuất mô hình ngành nghề phi nông nghiệp cụ thể nào để tạo việc làm cho người nghèo?
Tác giả đề xuất đưa nghề tiểu thủ công nghiệp đan lát mây tre/tầm vông về xã Hảo Đước thông qua việc liên kết với làng nghề truyền thống và Hợp tác xã mây tre đan tại xã Long Thành Trung (huyện Hòa Thành, cách 15 km). Mô hình này tận dụng nguồn nguyên liệu tầm vông tại chỗ, thời gian đào tạo nghề ngắn (khoảng 4 tháng), huy động được lao động nhàn rỗi trong gia đình và ước tính mang lại thu nhập làm thuê khoảng 1.000.000 đồng/người/tháng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của Huỳnh Hữu Trọng đã phản ánh thực trạng nghèo đói tại xã thuần nông Hảo Đước, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh trong giai đoạn 2004 - 2006 bằng các dữ liệu thứ cấp và điều tra sơ cấp đối chứng 80 hộ. Tác giả đã chứng minh mối liên hệ chặt chẽ giữa điều kiện tự nhiên bất lợi, sự thiếu hụt đất đai, vốn đầu tư, trình độ văn hóa thấp và quy mô gia đình đông con với tình trạng nghèo của nông hộ. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất—đặc biệt là giải pháp phát triển nghề thủ công mây tre đan và điều chỉnh chính sách tín dụng vi mô—cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ công tác xóa đói giảm nghèo tại chính quyền cơ sở.