CHƯƠNG I: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ GIẢM NGHÈO ĐA CHIỀU TẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm nghèo đa chiều Nghèo đói không hẳn là một khái niệm mới lạ khi được nhắc tới, tuy nhiên, xét về góc độ nghiên cứu và đánh giá thì lại chưa được cân nhắc và đo lường một cách đầy đủ và toàn diện, đặc biệt là tại một nước đang phát triển và còn nhiều khó khăn trong các công tác chính sách, an sinh xã hội như Việt Nam. Trong các nghiên cứu sớm và cơ bản về nghèo từ thập niên 70 của thế kỷ XX, nghèo đói chỉ được nhận thức về cơ bản là sự nghèo khổ về vật chất, tiêu dùng; mà yếu tố cốt lõi để đánh giá một người trong tình trạng nghèo đói là sự thiếu hụt so với một chuẩn mực nhất định, đồng nhất với một khái niệm khác cụ thể hơn, đó là mức sống, mà được xác định phụ thuộc vào các yếu tố chuẩn mực xã hội thay đổi theo không gian và thời gian. Để dễ dàng cho đánh giá và khảo sát, đo lường,yếu tố thu nhập hay mức chi tiêu đã trở thành thước đo thông dụng và thuận tiện, thể hiện được lợi thế của nó trong cả thời kỳ trước khi người ta có cái nhìn toàn diện và đa chiều hơn với khái niệm nghèo đói, từ nghèo khổ vật chất đến nghèo khổ con người và xã hội.
Khi đó, việc tăng mức sống hay độ thỏa dụng cá nhân gần như được đưa về việc chú trọng làm tăng thu nhập người dân. Theo cách hiểu này, các chính sách XĐGN sẽ phải tập trung vào việc tăng năng suất tạo việc làm…qua đó cải thiện, nâng cao thu nhập cho người dân để họ cơ bản đạt được mức sống như xã hội mong muốn. Quan niệm về đói nghèo như vậy là cần, nhưng chưa đủ vì đói nghèo là khái niệm bao hàm nhiều khía cạnh khác chứ không chỉ riêng thu nhập, mà coi cái người nghèo thiếu hụt ở đây là nhu cầu cơ bản, được hiểu là những hàng hóa và dịch vụ cụ thể mà việc được đáp ứng chúng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cuộc sống. Những nhu cầu cơ bản đó bao gồm lương thực, nước sạch, điều kiện vệ sinh, nhà ở, giáo dục, y tế cơ sở và như cầu tiếp cận thông tin.
Theo góc độ này, để XĐGN cần có chính sách cụ thể đối với từng nhu cầu cơ bản, chứ không chỉ tập trung vào mỗi việc tăng thu nhập cho cá nhân. Dương Thị Hương Giang – Kế hoạch 55A Chuyên đề thực tập 5 Tại hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu á- Thái bình dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những như cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận." Trong báo cáo phát triển con người năm 1997, UNDP đã đề cập đến khái niệm nghèo khổ dựa trên cơ sở quan điểm về phát triển con người, gọi là nghèo khổ tổng hợp hay nghèo khổ con người. Khác với quan niệm nghèo khổ về thu nhập, nghèo khổ tổng hợp đề cập đến sự phủ nhận các cơ hội và sự lựa chọn để đảm bảo một cuộc sống cơ bản nhất hoặc “có thể chấp nhận được”. Theo đó, nghèo khổ được tính đến điều kiện khó khăn trong phát triển con người cơ bản, ví dụ như cuộc đời ngắn ngủi (tuổi thọ), thiếu giáo dục cơ bản và thiếu sự tiếp cận đến các nguồn lực.
Khái niệm trên cho thấy, xóa nghèo cũng là một khía cạnh của phát triển con người – một khái niệm được định nghĩa là quá trình tăng thêm sự lựa chọn của con người. Trong những năm gần đây, khái niệm nghèo đa chiều, tức đo lường nghèo đói trên phương diện nhiều chiều cạnh phản ánh các nhu cầu sinh hoạt cơ bản của con người, đã được chú ý đến và đang từng bước được áp dụng trong việc chuyển từ đánh giá đơn chiều nghèo vật chất sang tiếp cận nghèo đa chiều. Khái niệm nghèo theo nghĩa đa chiều đã được Tổ chức Liên hợp quốc (UN) đề cập đến trong Tuyên bố Liên hợp quốc vào tháng 6/2008: "Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng.
Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh" Như vậy, ngày nay, hầu hết các tổ chức quốc tế như NHTG, UN đều đã mở rộng khái niệm đói nghèo để bao hàm cả các khái niệm về khả năng thực hiện, đạt Dương Thị Hương Giang – Kế hoạch 55A Chuyên đề thực tập 6 đến các nhu cầu hay độ thỏa dụng cá nhân. Theo đó, đói nghèo gồm những khía cạnh cơ bản như: - Sự khốn cùng về vật chất, được đo lường theo một tiêu chí thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng. - Đi kèm với sự khốn cùng về vật chất là sự thiếu thốn về giáo dục và y tế. - Nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro, tức là khả năng một hộ gia đình hay cá nhân bị rơi vào cảnh đói nghèo về thu nhập hoặc về sức khỏe.
- Cuối cùng là tình trạng không có tiếng nói và quyền lực của người nghèo. Ngoài ra, còn có nhiều quan niệm khác nhau về nghèo đói. Theo Ngân hàng phát triển Châu Á: “Nghèo là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản và cơ hội mà mỗi con người có quyền được hưởng. Mọi người cần được tiếp cận với giáo dục cơ sở và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản.
Các hộ nghèo có quyền duy trì cuộc sống bằng chính lao động của họ và được trả công một cách hợp lý, cũng như được sự bảo trợ khi có biến động bên ngoài”. Nghị quyết số 15-NQ/TW Hội nghị TW5 của Ban chấp hành Trung ương khóa 11 về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 đã thể hiện sơ bộ quan niệm về nghèo đa chiều khi đề ra nhiệm vụ “bảo đảm an sinh xã hội, chú trọng đến việc làm, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội cho những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc ít người, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập và một số dịch vụ xã hội cơ bản như khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, nước sạch, thông tin, truyền thông”. Như vậy, khái niệm nghèo đa chiều đã cơ bản được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013, được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống, và được Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh giao cho Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu xây dựng đề án tổng thể về đổi mới phương pháp tiếp cận nghèo đói ở Việt Nam từ đơn chiều sang đa chiều. Trước đó, Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Nghị quyết NQ76/2014/QH13 về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, trong đó nêu rõ: "xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu (thu nhập) và đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản" và đã được làm rõ nhiệm vụ xây dựng, nghiên cứu xây dựng đề án tổng thể về Dương Thị Hương Giang – Kế hoạch 55A Chuyên đề thực tập 7 đổi mới phương pháp tiếp cận nghèo đói ở Việt Nam từ đơn chiều sang đa chiều qua Quyết định số 2324/QĐ-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết số 76/2014/QH13.
Ngày 15/9/2015, Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020” được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định phê duyệt, xác định chuẩn nghèo mới cho công tác đo lường nghèo tại Việt Nam thực hiện chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2015 – 2020. Tuy được diễn giải bằng nhiều cách thức khác nhau nhưng nhìn chung, các khái niệm trên đều cho thấy sự thống nhất một cách tương đối của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Trong khuôn khổ bài viết, để đảm bảo nhất quán, tác giả thống nhất sử dụng khái niệm Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống. Các thước đo đánh giá nghèo đa chiều Như vậy, nghèo đói đa chiều có thể được phản ánh bằng các chỉ số tiền tệ và phi tiền tệ.
Khía cạnh tiền tệ của đói nghèo được phản ánh chủ yếu qua mức chi tiêu bình quân đầu người, thể hiện các mức chi cho ăn uống, học hành, chăm sóc sức khỏe…làm cải thiện chất lượng cuộc sống. Ngoài ra, thước đo chi tiêu còn bao gồm cả tính toán về “gía trị sử dụng” hàng năm của những hàng hóa lâu bền và nhà ở. Ngoài việc sử dụng số liệu về chi tiêu, người ta còn sử dụng số liệu về thu nhập.Nó cho phép phân tách được các nguồn thu nhập khi phân tích đói nghèo, và việc thu thập, so sánh số liệu từ các nguồn khác nhau dễ dàng hơn. Các khía cạnh phi tiền tệ của đói nghèo được dùng để đo tình trạng thiếu thốn về y tế, giáo dục, nhà ở, sự bất an, kém tự tin hay thiếu quyền lực… Trong một số trường hợp, có thể ước tính giá trị của các chỉ số phi tiền tệ này, nhưng đa phần phải dựa trên các đánh giá chủ quan do cá nhân tự khai báo qua các cuộc điều tra.
Dương Thị Hương Giang – Kế hoạch 55A Chuyên đề thực tập 8 Khi nghèo đói được nhìn nhận dưới góc độ đa chiều, thì để đo lường, người ta cũng phải xem xét đến các quyền lợi xã hội và phúc lợi kinh tế. Do vậy, thiết lập một phương pháp, thước đo nghèo đa chiều cần cân đối đến các mặt y tế, giáo dục, lương thực, nguồn vốn, việc làm và thu nhập.