Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE GIẢM NGI EO ĐA CHIEU CHO HỘ NÔNG DAN 1. Cơ sử lý luận về giảm nghèo đa chiều cho hộ nông dân 1. Khái niệm về nghèo đói, nghèo đa chiều 1. Khái niệm về nghèo đói Trong cuộc sống hang ngày của con người, để tồn tại được thì cần phải giải quyết được những nhu cầu thiết yêu nhất.
Những nhu cầu này được chia. thành hai dang, đó là nhu cầu về vật chất và nhu cầu vẻ tinh thần. Những nhu âu này phải được đáp ứng ở mức độ nhật định nào đó, mà thường được gọi là mức sống tối thiểu của cộng đồng. Nghĩa là nếu không đạt được đến mức này, con người không thé đảm bảo cuộc sống để phát triển một cách binh thường được.
Do vậy, khí nghiên cứu đói nghèo, chúng ta phải nghiên cứu đến nhu cầu, hay còn gọi la mức sống tối thiêu của người dân. Mặt khác, nghẻo đối là một khái niệm mang tính chất động, nó biến đổi tuỳ thuộc vào không gian, thời gian vả xuất phát điểm của mỗi địa phương. hay mỗi quốc gia. Tuy thuộc vào từng quốc gia, từng thời điểm khác nhau, cũng như quan điểm nghiên cứu khác nhau ma nghèo đói được quan niệm khác nhau.
Từ trước đến nay có nhiều quốc gia, nhiều tổ chức trên thé giới đã. đưa ra những quan điểm của mình về nghèo đói, các quan điểm này phản ánh mục tiêu nghiên cứu, cũng như phản ánh tinh trạng nghèo của các nước trên thé giới. Tiêu chí chung nhất đề xác định đói nghèo vẫn là mức thu nhập hay. chi tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người.
Sự khác nhau chung nhất là thoả mãn ở mức độ cao hay mức độ thấp mà thôi, đ này phụ. thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội cũng như phong tục tập quán của. từng vùng, ứng quốc gia. Có nhiều khái niệm vẻ nghéo đói của các tỏ chức và quốc gia trên thé giới cũng như Việt Nam trên nhiều phương diện và tiêu thức khác nhau như.
theo thời gian, không gian, môi trường. Quan niệm thống nhất được Bộ Lao Động thương binh và xã hội (2015) chi ra rằng “Nghéo đói là tinh trạng một bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp với điều kiện ăn, mặc, ở và các nhu cầu thiết khác bằng hoặc thấp hon mức tối hiểu để duy trì cuộc sống ở một khu vực tại một thời điểm nhất định”. [1,2] Theo Liên hợp q (UN) trong tác phẩm ` Xóa đói, giảm nghéo ở Việt Nam” năm 1995, * Nghéo là thiếu năng lực tối thiểu tham gia hiệu quả vào. các hoạt động xã hội.
Nghéo có nghĩa là không đủ ăn, đù mặc, không được di học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tin dụng. Nghèo cũng có nghĩa là sự không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân”. Trong cuốn khảo cứu dai 17 tập nhan đề “The Life and Labour of the People in London” (Cuộc sống và lao động của người din London) (1989 - 1903), Booth sử dung thu nhập như một thước đo nghèo đói. Khi đưa ra khái niệm mức nghèo, một mức mà dưới ngudng 46 gia đình không thể có được những nhu cầu tối thiếu dé tồn tại.
Ông cũng đưa ra tính toán thu nhập dé đáp. ứng mức lương thiết yếu của họ, cộng thêm khoản chi quần áo va nha ở. Hội nghị bản về giảm nghẻo đói ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc tháng 9/1993 đã đưa ra khái niệm và định nghĩa về nghèo đối. Theo Hội nghị, “Nghéo đói là tinh trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận thay theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong, tục lập quán của eé địa phương”.
Có thể xem đây là định nghĩa chung nhất về ngh8o đối, trong đó các tiêu chỉ và chuẩn mực đánh giá về nghéo đổi còn cđể ng về mặt lượng hóa, bởi nó chưa tinh đến những khác biệt và độ chênh. lệch giữa các vùng, các điều kiện lịch sử cụ thể quy định trình độ phát triển ở mỗi nơi. Hội nghị thượng đỉnh thể giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen ở Đan Mach năm 1995 đã đưa ra một sổ định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “Người nghèo là tất cả những ai ma thu nhập thấp hơn. dưới 1 USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu dé tồn tại”.
Ngoài ra, cũng có quán niệm khác về nghèo. đối mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu Tổ chức. Lao động quốc tế (ILO) - ông Abapia Sen, người được giải thưởng Nooben về. kinh tế năm 1998, cho.
1g “Nghéo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia. vào quá trình phát triển của cng đồng”. Xét cho cũng sự tồn tại của con người nói chung và người gidu, người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống, thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn, người nghèo có cơ hội lựa chọn ít hơn. ‘Theo ngân hàng Phát triển Châu A, “Nghéo là tinh trạng thiểu những tải sản cơ bản và cơ hội mà mỗi con người có quyền được hưởng.
Mọi người cẩn được tiếp cận v gi đục cơ sở và các dich vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản. Các hộ nghèo có quyền duy trì cuộc sống bằng chính lao động của họ va được trả công một cách hợp lý, cũng như được sự bảo trợ khi có biến động bên ngoài [17]. C khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả cho rằng nghèo la một hiện tượng đa chiều, tinh trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụtkhông được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Dựa trên những quan niệm về nghèo đói của các cá nhân và tổ chức trên thé giới, Việt Nam đã đưa ra các khái niệm cụ thể về đói và nghèo thường được chỉa ra làm hai khái niệm riêng biệt Nghéo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phan những nhu cau tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Trong hoàn cảnh nghèo, người nghèo và hộ nghèo cũng chỉ vẫn vật lộn với những mưu sinh hàng ngày và kinh tế vật chất, biểu hiện trực tiếp nhất ở bữa ăn. không thể vươn tới các nhu edu về văn hóa- tỉnh thần hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm tới mức tối thiêu gần nhất, gần như không có. Điều nay biệt rõ ở nông thôn với hiện tượng trẻ em bỏ học, thất học, các hộ nông dân nghèo. không có khả năng để hưởng thụ văn hóa, chữa bệnh khi ốm đau, không đủ hoặc không thể mua sắm thêm quần áo cho nhu cầu mặc, sửa chữa nhà cửa cho nhu cầu ở.
Nghéo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân chi đảnh hầu như toàn bộ cho nhu cầu ăn, thậm chí không đủ chỉ cho ăn, phần tích lũy hdu như không có. ,Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu va thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất dé duy trì cuộc sống. Sự nghèo khổ, sự bin cùng được biểu hiện là đi, là tinh trạng con người không có cái ăn, ăn không đủ lượng dinh đưỡng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức dé lao động, để tái sản xuất sức lao động. 'Về mặt nang lượng, nếu trong một ngày, con người chỉ được thỏa mãn mức 1500 calo/ ngày thi đó là thiểu đói, dưới mức đó 14 đói gay gắt.
Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng. đồng và thiểu khả năng chỉ trả. Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở đốt nat, con thất học, bình quân thu nhập dưới 13 kg gạo/ngườitháng (tương đương 45. Đi nghèo ở nước ta, ngoài những đặc điểm xét về phương điện kinh tế, còn có những đặc điểm về phương diện xã hội.
Nhìn chung, khải niệm nghèo đói là tỉnh trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, dye, đi lại, quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đông. Nghèo đối thường được phan ảnh dưới ba khía cạnh: + Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu của con người + Mức sống thấp dưới mức trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú. + Không được hưởng cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng. Như vậy, nghèo là tỉnh trạng một bộ phận dân cư chỉ có những kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dẫn cư có mite sống đưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghẻo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụt của từng địa phương, từng thờ kỳ cụ thé hay từng giai đoạn phát tiền kinh tế xã hội cụ thé của từng địa phương hay từng vũng. Khái niệm về nghèo da chiều Khai niệm nghéo về tiền thường được ap đụng trong nghiên cứu về đói nghèo trên thé giới. Tuy nhiên, tình trạng nghèo không chỉ được đo lường bằng chi tiêu hay thu nhập, mà còn bằng các chỉ bao về mức sống chỉ ra phúc lợi kinh tế - xã hội mà hộ gia đình có được.
Mặc dù vậy, việc chọn lựa các chỉ báo phù hợp để đo lường nghèo đa chiều vẫn còn chưa rõ rằng. Cách tiếp cận Sinh kế bền vững (SLA) của Bộ Phát triển Quốc tế - Vương Quốc Anh (DFID) có quan hệ chặt chẽ với khái niệm nghèo đa chiều khi sử dụng một bộ các chỉ báo kinh tế ~ xã hội để phản ánh khả năng tiếp cập đến năm nhóm tài sản sinh kế bao gồm tải Sản con người, xã hội, tự nhiên, vật chất và. th của hộ gia định hoặc cá nhân.