phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng I: Cơ sở khoa học và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng II: Thực trạng xoá đói giảm nghèo và cải thiện môi trƣờng sống cho ngƣời nghèo khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên. Chƣơng III: Một số giải pháp nhằm xoá đói giảm nghèo và cải thiện môi trƣờng sống cho ngƣời nghèo khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 CHƢƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1.
Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái niệm về nghèo đói Nghèo đói là một khái niệm mang tính chất động, nó biến đổi tuỳ thuộc vào không gian, thời gian và xuất phát điểm của mỗi địa phƣơng, mỗi quốc gia. Tuỳ thuộc vào từng quốc gia, từng thời điểm khác nhau, cũng nhƣ quan điểm nghiên cứu khác nhau mà nghèo đói đƣợc phát biểu khác nhau. Sau đây là các quan điểm tiếp cận vấn đề nghèo đói; Theo cách tiếp cận hẹp [16] Nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cƣ là thấp nhất so với mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cƣ khác.
Theo cách tiếp cận này về vấn đề nghèo đói chƣa bao quát đƣợc tính chất tuyệt đối của nghèo đói, nghĩa là mới chỉ đánh giá theo tiêu chuẩn nghèo đói tƣơng đối, mà trên thực tế thì lúc nào trong xã hội hiện đại cũng tồn tại nghèo đói kể cả ở những quốc gia giàu nhất. Nếu đứng trên phƣơng diện so sánh mức sống, mức thu nhập của các nhóm dân cƣ thì lúc nào cũng có một nhóm dân cƣ đứng thấp nhất, nhóm đứng cao nhất và các nhóm trung bình. Đó là nghèo đói tƣơng đối. Nhƣng thực tế ở nhiều quốc gia nghèo, ngay trong nhóm nghèo nhất cũng đã xuất hiện nhóm nghèo đói tuyệt đối, nghĩa là họ sống một cuộc sống cùng cực, ở tạm bợ và lo lắng về từng bữa ăn.
Cách tiếp cận này là cách tiếp cận phổ biến hiện nay. Những ngƣời theo quan điểm này có xu hƣớng tìm kiếm một chuẩn nghèo chung để đánh giá mức độ nghèo đói của từng nhóm dân cƣ, mà không đi sâu vào giải quyết những nguyên nhân sâu xa, những căn nguyên sâu xa, bản chất bên trong của vấn đề, tức là cơ chế nội tại của nền kinh tế đang hàng ngày hàng giờ đẩy một nhóm dân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 cƣ đi vào tình trạng nghèo đói nhƣ một xu thế tất yếu xẩy ra. Do đó, các biện pháp tấn công nghèo đói đƣa ra trên theo quan điểm này thƣờng thiếu triệt để, họ chỉ dừng lại ở các biện pháp hỗ trợ tài chính, kinh tế, và các biện pháp kỹ thuật cho nhóm dân cƣ nghèo đói đó, nó sẽ không tạo đƣợc động lực để bản thân những ngƣời nghèo tự mình vƣơn lên trong cuộc sống. Theo cách tiếp cận rộng [16] Vấn đề nghèo đói theo quan điểm này đƣợc tiếp cận từ phƣơng pháp luận cho rằng căn nguyên sâu xa của nghèo đói là do trong xã hội có sự phân hoá giàu nghèo, mà chính sự phân hoá đó là hệ quả của chế độ kinh tế xã hội.
Trong thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, khi mà năng suất lao động còn thấp, chƣa có tích luỹ thì giữa con ngƣời chƣa có sự phân hoá giàu nghèo. Nhƣng khi xã hội càng phát triển, có sự phân công lao động trong lực lƣợng sản suất, xã hội đã bắt đầu có tích luỹ thì cấu trúc xã hội trên quan hệ thị tộc cũng đã bắt đầu biến đổi, xuất hiện chiếm hữu tƣ nhân và trao đổi hàng hoá. Xã hội đã phân chia thành nhiều giai cấp, trong xã hội đã có ngƣời giàu ngƣời nghèo đây là mầm mống của những xung đột giữa các giai cấp. Cách tiếp cận rộng cho phép tiếp cận nghèo đói một cách toàn diện, đặt hiện tƣợng nghèo đói trong sự so sánh với giàu có và trong hoàn cảnh nhất định.
Khi nói đến ngƣời nghèo chúng ta không thể không đặt họ vào sự so sánh toàn diện với ngƣời giàu, bằng cách đó chúng ta mới có thể nhìn thấu đáo hộ nghèo và đói nhƣ thế nào, từ đó lý giải một cách khoa học thực chất của quá trình dẫn tới đói nghèo. Từ những cách tiếp cận vấn đề nghèo đói chúng ta có thể rút ra đƣợc những kết luận sau: - Phân hoá giàu nghèo không những là hệ quả của các xã hội có giai cấp và phân chia giai cấp, mà còn thể hiện bản chất sâu xa của các xung đột xã hội giữa lớp ngƣời giàu lớp ngƣời nghèo. Giải quyết căn bản vấn đề này chỉ có thể trên cơ sở giải quyết căn bản vấn đề bất bình đẳng trong xã hội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 - Phân hoá giàu nghèo là hiện tƣợng phát sinh trong quá trình thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế.
Bởi vậy, nếu không xử lý kịp thời, hoặc không có cơ chế duy trì sự công bằng nhất định hay hạn chế quá trình làm trầm trọng thêm hố ngăn cách giữa lớp ngƣời giàu và lớp ngƣời nghèo, thì nguy cơ phân tầng xã hội, phân hoá giai cấp cũng sẽ diễn ra. - Chủ thể có đầy đủ khả năng điều hòa thu nhập giữa các nhóm dân cƣ là Nhà nƣớc, tuy nhiên do bản chất nhà nƣớc ở các chế độ, cũng nhƣ định hƣớng chính trị khác nhau là rất khác nhau nên năng lực cũng nhƣ tính triệt để của các giải pháp xử lý hố ngăn cách giàu nghèo có thể dựa trên cách tiếp cận rộng hay hẹp tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia, trong từng thời điểm lịch sử nhất định. Các quan điểm về chỉ tiêu đánh giá về mức nghèo đói hiện nay Cho đến nay dƣờng nhƣ đã đi đến một cách tiếp cận tƣơng đối thống nhất về đánh giá mức độ nghèo đói, đó là định ra một tiêu chuẩn hay một điều kiện chung nào đó, mà hễ ai có thu nhập hay chi tiêu dƣới mức thu nhập chuẩn thì sẽ không thể có một cuộc sống tối thiểu hay đạt đƣợc những nhu cầu thiết yếu cho sự tồn tại trong xã hội. Trên cơ sở mức chung đó để xác định ngƣời nghèo hay không nghèo.
Tuy nhiên, khi đi sâu vào kỹ thuật tính chuẩn nghèo thì có nhiều cách xác định khác nhau theo cả thời gian và không gian. Ở đây cần phân biệt rõ mức sống tối thiểu và mức thu nhập tối thiểu. Mức thu nhập tối thiểu hoàn toàn không có nghĩa là có khả năng nhận đƣợc những thứ cần thiết tối thiểu cho cuộc sống. Trong khi đó mức sống tối thiểu lại bao hàm tất cả những chi phí để tái sản xuất sức lao động gồm năng lƣợng cần thiết cho cơ thể, giáo dục, nghỉ ngơi giải trí và các hoạt động văn hoá khác.
Do vậy, khái niệm về mức sống tối thiểu không phải là một khái niệm tĩnh mà là động, một khái niệm tƣơng đối và rất phong phú về nội dung và hình thức, không chỉ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 tuỳ theo sự khác nhau về môi trƣờng văn hoá, mà còn phụ thuộc vào sự thay đổi về đời sống vật chất cùng với quá trình tăng trƣởng kinh tế. Quan điểm của ngân hàng thế giới (WB) năm 1998 - Trong việc lựa chọn tiêu thức đánh giá WB đã lựa chọn tiêu thức phúc lợi với những chỉ tiêu về bình quân đầu ngƣời bao gồm cả ăn uống, học hành, mặc, thuốc men, dịch vụ y tế, nhà ở và giá trị hàng hoá lâu bền. Tuy nhiên, báo cáo về những số liệu này về thu nhập ở Việt Nam sẽ thiếu chính xác bởi phần lớn ngƣời lao động tự hành nghề. - WB đƣa ra hai ngƣỡng nghèo: + Ngƣỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua một số lƣơng thực gọi là ngƣỡng nghèo lƣơng thực.
Ngƣỡng nghèo lƣơng thực, thực phẩm mà WB đƣa ra theo cuộc điều tra mức sống 1998 là lƣợng lƣơng thực, thực phẩm tiêu thụ phải đáp ứng nhu cầu dinh dƣỡng với năng lƣợng 2000-2200 kcal mỗi ngƣời mỗi ngày. Ngƣời dƣới ngƣỡng đó thì là nghèo về lƣơng thực. Dựa trên giá cả thị trƣờng để tính chi phí cho rổ lƣơng thực đó. Và theo tính toán của WB chi phí để mua rổ lƣơng thực là 1.833 đồng/ngƣời/năm.
+ Ngƣỡng nghèo thứ hai là bao gồm cả chi tiêu cho sản phẩm phi lƣơng thực, gọi là ngƣỡng nghèo chung. Cách xác định ngƣỡng nghèo chung: Ngƣỡng nghèo chung =(ngƣỡng nghèo lƣơng thực)+(ngƣỡng nghèo phi lƣơng thực) Ngƣỡng nghèo đƣợc tính toán về phần phi lƣơng thực năm 1998 là 503038 đồng/ngƣời/năm từ đó ta có ngƣỡng nghèo chung là 1.871 đồng/ngƣời/năm. - Quan điểm của tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization viết tắt là ILO) về chuẩn nghèo đói: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 + Về chuẩn nghèo đói ILO cho rằng để xây dựng “rổ” hàng hoá cho ngƣời nghèo cơ sở xác định là lƣơng thực thực phẩm. Rổ lƣơng thực phải phù hợp với chế độ ăn uống sở tại và cơ cấu bữa ăn thích hợp nhất cho những nhóm ngƣời nghèo.
Theo ILO thì có thể thu đƣợc nhiều kcalo từ bất kỳ một sự kết hợp thực phẩm mà xét về chi phí thì có sự khác nhau rất lớn. Với ngƣời nghèo thì phải thoả mãn nhu cầu thực phẩm từ các nguồn kcalo rẻ nhất. + ILO cũng thống nhất với ngân hàng thế giới về mức ngƣỡng nghèo lƣơng thực thực phẩm 2100 kcalo, tuy nhiên ở đây ILO tính toán tỷ lệ lƣơng thực trong rổ lƣơng thực cho ngƣời nghèo với 75% kcalo từ gạo và 25% kcalo có đƣợc từ các hàng hoá khác đƣợc gọi là các gia vị. Từ đó mức chuẩn nghèo hợp lý là 511.000 đồng/ngƣời/năm.
- Quan điểm của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 1998 Tiêu chuẩn nghèo theo Tổng cục Thống kê Việt Nam đƣợc xác định bằng mức thu nhập tính theo thời giá vừa đủ để mua một rổ hàng hoá lƣơng thực thực phẩm cần thiết duy trì với nhiệt lƣợng 2100 kcalo/ngày/ngƣời. Những ngƣời có mức thu nhập bình quân dƣới ngƣỡng trên đƣợc xếp vào diện nghèo.