Chương 1. Cơ sở lý luận về tình hình chất lƣợng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp (Viện). Phân tích tình hình 3 loại nhân lực chất lƣợng cao cho phát triển hoạt động của Viện Điều tra, Quy hoạch rừng. Một số giải pháp nâng giữ và tăng thêm 3 loại nhân lực chất lƣợng cao cho phát triển hoạt động của Viện Điều tra, Quy hoạch rừng, giai đoạn 2017 - 2021.
13 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO CHO PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Nhân lực chất lƣợng cao - yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động; tồn tại và phát triển của doanh nghiệp khi có cạnh tranh từ đáng kể trở lên Khi đất nƣớc chuyển sang kinh tế thị trƣờng, tham gia WTO, APEC, EAEU, CP TPP, RCEP, Cộng đồng ASEAN … là khi tính chất cạnh tranh thay đổi đáng kể, mức độ cạnh tranh tăng lên mạnh mẽ. Để vƣợt qua một cách thành công những thử thách mới của cạnh tranh, chuyển hóa những cơ hội thành những lợi ích to lớn cho mình, doanh nghiệp Việt Nam có cách tốt nhất là không ngừng, nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh của các yếu tố kinh doanh, trong đó quan trọng nhất là bộ 3 nhân lực chất lƣợng cao để tăng thêm sức cạnh tranh của sản phẩm đầu ra, trong đó chất lƣợng là quan trọng nhất từ đó thƣờng xuyên đạt hiệu quả hoạt động từ mức trung bình trở lên. Trong số các yếu tố kinh doanh nhƣ: nhân lực, công nghệ, tổng tài sản, thƣơng hiệu … yếu tố quyết định nhiều nhất sức cạnh tranh của sản phẩm đầu ra, hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp - loại doanh nghiệp đặc thù cần có bộ ba nhân lực chất lƣợng cao mạnh đồng bộ: đội ngũ cán bộ quản lý CLC, đội ngũ nhân viên phục vụ CLC, đội ngũ cán bộ chuyên môn chất lƣợng cao.
Chúng ta chƣa biết chắc chắn đƣợc, con ngƣời đã sáng tạo ra tiêu chuẩn hiệu quả hoạt động từ bao giờ. Chúng ta có thể khẳng định rằng, chỉ có con ngƣời mới cần và đã sáng tạo đƣợc tiêu chuẩn hiệu quả cho từng loại hoạt động của mình. Hiệu quả của hoạt động bất kỳ là kết quả tƣơng quan, so sánh mức độ đạt đƣợc mục đích, mục tiêu với mức giá phải trả. Hiệu quả hoạt động là cơ sở để con ngƣời so sánh, cân nhắc đi đến quyết định lựa chọn.
Con ngƣời khác con vật ở chỗ: con ngƣời kỳ vọng, theo đuổi, tìm cách đạt đƣợc hiệu quả hoạt động cao nhất có thể. Khi phần hiệu quả ít là khi phần con nhiều. Những trƣờng hợp còn nhầm lẫn kết quả là hiệu quả; không biết cách đo lƣờng, đánh giá tƣơng đối chính xác hiệu quả.là yếu kém, là khó đạt đƣợc hiệu quả cao. Những trƣờng hợp đạt đƣợc cùng kết quả nhƣng chi 14 phí cao hơn hoặc cùng lƣợng chi phí nhƣng kết quả thấp hơn.
là hiệu quả thấp hơn, trình độ thấp hơn. Trong kinh tế thị trƣờng doanh nghiệp hoạt động là đầu tƣ, sử dụng các nguồn lực tranh giành với các đối thủ phần nhu cầu của thị trƣờng; đƣợc và phải chủ động, tự quyết trong mọi vấn đề của quá trình kinh doanh. Hoạt động kinh doanh của doang nghiệp cũng nhƣ bất kỳ hoạt động nào khác của con ngƣời có mục đích đạt đƣợc hiệu quả cao nhất có thể. Theo GS-TS Đỗ Văn Phức [13,tr 15], hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là kết quả tƣơng quan, so sánh những lợi ích thu đƣợc từ hoạt động của doanh nghiệp (Doanh nghiệp) quy tính thành tiền với tất cả các chi phí cho việc có đƣợc các lợi ích đó cũng quy tính thành tiền.
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là tiêu chuẩn đƣợc sáng tạo để đánh giá, lựa chọn mỗi khi cần thiết. Do đó, cần tính toán tƣơng đối chính xác và có chuẩn mực để so sánh. Để tính toán đƣợc hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trƣớc hết cần tính toán đƣợc toàn bộ các lợi ích và toàn bộ các chi phí tƣơng thích. Do lợi ích thu đƣợc từ hoạt động của doanh nghiệp cụ thể hàng năm thƣờng rất phong phú, đa dạng, hữu hình và vô hình (tiền tăng thêm, kiến thức, kỹ năng tăng thêm, quan hệ tăng thêm, tăng thêm về công ăn - việc làm, cân bằng hơn về phát triển kinh tế, thu nhập, ảnh hƣởng đến môi trƣờng sinh thái, môi trƣờng chính trị - xã hội…) nên cần nhận biết, thống kê cho hết và biết cách quy tính tƣơng đối chính xác ra tiền.
Nguồn lực đƣợc huy động, sử dụng cho hoạt động của doanh nghiệp cụ thể trong năm thƣờng bao gồm nhiều loại, nhiều dạng, vô hình và hữu hình và có loại chỉ tham gia một phần nên cần nhận biết, thống kê đầy đủ và bóc tách - quy tính ra tiền cho tƣơng đối chính xác. Trong thực tế doanh nghiệp thƣờng xuyên phải trả lời ba câu hỏi: tại sao phải nâng cao hiệu quả, nâng từ đâu đến đâu, nâng bằng cách nào. Câu hỏi một có thể trả lời ngắn gọn: khi có cạnh tranh từ đáng kể trở lên doanh nghiệp muốn tồn tại bình thƣờng và phát triển phải đạt đƣợc hiệu quả hoạt động từ trung bình trở lên. Để trả lời câu hỏi hai cần phải biết cách đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà 15 trƣớc hết phải có và sử dụng phƣơng pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Để trả lời câu hỏi ba cần hiểu biết các nhân tố của hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Hiện nay, trong lý luận và trên thực tế Việt Nam bản chất và phƣơng pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp còn nhiều ý kiến khác nhau. Vận dụng lý luận về phƣơng pháp đánh giá tình hình của GS-TS Đỗ Văn Phức [13, Tr52], chúng tôi đề xuất các yêu cầu đối với 4 thành tố của phƣơng pháp đánh giá tình hình hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp/Doanh nghiệp nhƣ sau: 1. Có bộ tiêu chí sát đúng với bản chất của hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; 2.
Có bộ dữ liệu đảm bảo chất lƣợng ở các doanh nghiệp của Việt Nam thƣờng có 3 loại số liệu thống kê với 3 mức độ chính xác. Do vậy, khi sử dụng số liệu thống kê để tính toán các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cần kiểm định lại mức độ chính xác; 3. Có các chuẩn mốc để so sánh chấp nhận đƣợc: lâu nay chúng ta chỉ quen lấy trị số của chỉ tiêu phản ánh hiệu quả theo kế hoạch, của thời kỳ trƣớc làm chuẩn mốc so sánh đánh giá! Theo chúng tôi chuẩn mốc để so sánh đánh giá tốt nhất là trị số chỉ tiêu hiệu quả của các đối thủ cạnh tranh thành đạt trong cùng thời gian; 4. Có cách định lƣợng để đánh giá chung kết hợp lý: cần xác định trọng số, số điểm tối đa của từng chỉ tiêu phản ánh hiệu quả; trên cơ sở trị số thực tế của chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của doanh nghiệp cụ thể, điểm tối đa của chỉ tiêu và trị số tối đa mà đối thủ cạnh tranh thành đạt đạt đƣợc chúng ta xác định điểm thực tế cho chỉ tiêu của doanh nghiệp cụ thể; Tổng số điểm thực tế của các chỉ tiêu trên 100 điểm là kết quả đánh giá tình hình hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cụ thể.
Doanh thu - toàn bộ chi ẩ bình của Mức trung ể ố 1. Lợi nhuận phí tạo ra doanh thu đó các ĐTCT thành đạt 35 Lợi nhuận/Toàn bộ tài sản Mức trung bình của 2. ROA, % tạo ra lợi nhuận đó x các ĐTCT thành đạt 65 100% Dƣới 50 điểm - Hiệu quả thấp Từ 50 đến 69 điểm - Hiệu quả trung bình 16 Từ 70 điểm trở lên - Hiệu quả cao Theo GS-TS kinh tế Đỗ Văn Phức [13,tr 16 và 17], mỗi khi phải tính toán, so sánh các phƣơng án, lựa chọn một phƣơng án đầu tƣ kinh doanh cần đánh giá, xếp loại A, B, C mức độ tác động, ảnh hƣởng đến tình hình chính trị - xã hội và môi trƣờng sinh thái nhƣ sau: - Giai đoạn Loại ảnh hƣởng 2006 - 2010 2011 - 2015 2016 - 2020 Xã hội - chính trị 1,35 1,25 1,15 Loại A Môi trƣờng 1,2 1,3 1,45 Xã hội - chính trị 1 1 1 Loại B Môi trƣờng 1 1 1 Xã hội - chính trị 0,80 0,85 0,90 Loại C Môi trƣờng 0,80 0,75 0,70 Sau khi đã quy tính, hàng năm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đƣợc nhận biết, đánh giá trên cơ sở các chỉ tiêu: Lãi (Lỗ), Lãi / tổng tài sản. Cần đánh giá hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp trong 5 năm qua gần nhất: tính toán và nhận xét đánh giá (ý kiến của học viên về) động thái của từng chỉ tiêu qua các năm, quan hệ của các chỉ tiêu trong từng năm và các nguyên nhân chủ yếu nhƣ ở bảng sau.
-Doanh 2012 2013 2014 2015 2016 Ý kiến học viên 1. Lợi nhuận, tỷĐ 2. Điểm đánh giá …. Điểm đánh giá/ Điểm tối đa …/65 …/65 …/65 …/65 …/65 5.
Tổng điêm hiệu quả Theo cách tiếp cận cụ thể khác: yếu tố quyết định nhiều nhất hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp khi có cạnh tranh từ đáng kể trở lên là bộ ba nhân lực chất lƣợng 17 cao: đội ngũ cán bộ quản lý CLC, đội ngũ chuyên viên điều tra, quy hoạch CLC, đội ngũ nhân viên phục vụ CLC. Theo GS,TS. Đỗ Văn Phức [13, tr18], nhân lực chất lƣợng cao là nhân lực vừa có trình độ đào tạo cao (có tiềm năng sáng tạo cao) vừa có thực tế sáng tạo cao. Khi có cạnh tranh từ đáng kể trở lên Doanh nghiệp cần và không thể tăng cƣờng đầu tƣ tìm cách có, sử dụng bền lâu 3 loại nhân lực chất lƣợng cao là: đội ngũ cán bộ quản lý CLC, đội ngũ chuyên viên điều tra, quy hoạch CLC, đội ngũ nhân viên phục vụ CLC.
Và khả năng cạnh tranh của sản phẩm đầu ra của Doanh nghiệp: về chất lƣợng, về giá chào bán, về thời hạn; sức tiêu thụ cùng với sức sinh lời, hiệu quả kinh doanh, mức độ phát triển của doanh nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào tình hình nhân lực chất lƣợng cao của Doanh nghiệp. Từ khi có cạnh tranh từ đáng kể trở lên càng về sau cạnh tranh giải tỏa sản phẩm đầu ra giữa các Doanh nghiệp chuyển dần sang giành giật nhân lực chất lƣợng cao giống nhƣ các câu lạc bộ bóng đá lớn đã và đang làm đối với các ngôi sao, siêu sao đá bóng và huấn luyện viên giỏi. Cả thực tế và lý luận luôn chỉ ra cho chúng ta: Nhân lực chất lƣợng cao thƣờng suy tính, đi đến quyết định xử lý, giải quyết tình huống, vấn đề thuộc nhanh, bài bản, sâu sắc, chính xác hơn.