CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÀNG GIẢ VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CHỐNG HÀNG GIẢ Ở VIỆT NAM 1.KHÁI NIỆM VỀ HÀNG GIẢ: 1. Hàng giả theo quan niệm của người tiêu dùng: Với người tiêu dùng, họ thường có quan niệm đơn giản về hàng giả. Họ cho rằng, hàng giả là những hàng hoá có chất lượng thấp hơn hoặc không giống như chất lượng hàng thật. Với quan niệm như vậy thì những hàng hoá có chất lượng tương đương hoặc không thể nhận biết được sự khác biệt sẽ được người tiêu dùng chấp nhận.
Đó có thể là hàng giả hoàn toàn về hình thức và nội dung, những hàng này có chất lượng vừa phải, khó có điều kiện kiểm tra. Ví dụ: giò lụa của một hãng nổi tiếng nhưng bị làm giả với lượng thịt nạc ít, khó ai có thể đánh giá được sau khi ăn , hay bánh đậu xanh “Rồng Vàng” giả được pha trộn với một tỷ lệ vừa phải của các loại đậu khác. Còn coù loại hàng giả dựa trên nguyên liệu có sẵn trên thị trường nhưng có chất lượng kém và giá rẻ được đóng vào bao bì in ấn tương đương thật như bột ngọt giả AJINOMOTO, bột ngọt đó là loại hàng thứ cấp chỉ dùng trong chế biến mà không được ăn trực tiếp, thậm chí họ còn dùng bột cá trộn muối tinh, đường trắng hay trộn lẫn bột safri… Trường hợp những hàng thật mà người tiêu dùng mới chỉ biết qua quảng cáo, chưa được tiếp xúc nhiều thì họ tiếp nhận hàng giả một cách tự nhiên. Hàng giả loại này thường có chất lượng khá tốt, bao bì được sản xuất với kỹ thuật tiên tiến hoặc bao bì cũ được sử dụng lại có gia cố một số kỹ thuật để gắn kết, có thể làm cả các dấu hiệu “chống giả” như hàng thật, điển hình là kính râm các loại, giầy và quần áo thể thao, các loại ví, dây lưng, đồng hồ… Đó thường là những nhãn hiệu hàng hoá có uy tín trên thị trường thế giới và được sản xuất từ nước ngoài.
Người tiêu dùng đã không hề băn khoăn khi lựa chọn những hàng hoá này cho dù họ biết đấy chỉ là hàng nhái còn hàng thật thì giá cả và chất lượng sẽ khác nhiều, họ khó có cơ hội tiêu dùng chúng. Theo Giám đốc viện nghiên cứu đời sống có trụ sở tại Hakuhodo (Nhật Bản), Hidehiko Sekizawa, khi đi mua sắm người Nhật thường rất kỹ 5 tính về chất lượng hàng hoá. Tuy nhiên, giờ đây khi mà khó có thể phân biệt đâu là thật – giả, đa số không còn coi trọng, việc mua hàng nhái không là vấn đề đáng bận tâm lắm. Mặt khác, cũng như nhiều người dân ở Việt Nam, ở Hàn Quốc và Trung Quốc, đa số người tiêu dùng không dám mơ tới những hàng hoá thứ thiệt có giá quá mắc, họ thường mua hàng giả, hàng nhái giá rẻ, hợp với túi tiền hơn.
Nắm bắt được thói quen của rất nhiều người tiêu dùng Châu Á thích xài hàng sang, nhãn mác nổi tiếng, một số công ty ở Hàn Quoác và Trung Quốc đã lao vào sản xuất các loại hàng hoá giả theo mẫu mã giống hệt những sản phẩm của các công ty có danh tiếng trên thế giới, được gọi là mặt hàng “nhái siêu hạng”. Đây là một thách thức lớn đối với các nhà sản xuất thế giới và khu vực trong việc bảo vệ bản quyền. Khách hàng cũng bị thu hút bởi những hàng giả mà công dụng của nó không bị ảnh hưởng bởi việc đó là hàng giả. Ví dụ một phần mềm kinh doanh bị sao cheùp bất hợp pháp có thể được sử dụng tốt như phiên bản chính gốc, đĩa nhạc bị sao chép ở dạng kỹ thuật số có thể không phân biệt được với đĩa CD gốc.
Để lý giải lý do tại sao khách hàng lại cố tình mua những loại hàng giả như vậy, điều quan trọng cần cho thấy rằng việc chấp nhận hàng giả – một vài nghiên cứu cho thấy, phần lớn khách hàng rất vui vẻ khi mua loại hàng giả này – dựa vào việc những hàng giả này không gây hại đến sự an toàn hay sức khoẻ của họ. Do đó sẽ không xảy ra trường hợp khách hàng cố tình mua những loại hàng giả như thuốc chữa bệnh, hàng thực phẩm. Ngoài ra, người tiêu dùng mua hàng giả là do họ không thể phân biệt được giữa hàng giả và hàng thật. Những tiến bộ kỹ thuật đã được bọn làm hàng giả sử dụng để tạo ra những bản sao chép ngày càng giống thật của cả sản phẩm và bao bì.
Tiến bộ kỹ thuật không chỉ có nghĩa là những bản sao chép tốt hơn được tạo ra, mà còn làm cho khó phát hiện hơn và chúng dễ dàng xâm nhập vào kênh mua bán thông thường của thương mại hợp pháp. Đôi khi hàng giả được trộn lẫn với hàng thật. Tiến bộ kỹ thuật còn đem tới những phương pháp sản xuất được cải tiến hơn và do đó những người sản xuất bất 6 chính có thể tạo ra nhiều hàng giả hơn, tăng khả năng khách hàng mua phải hàng giả. Rõ ràng là xuất phát từ quyền lợi của mình, người tiêu dùng luôn luôn đòi hỏi hàng hoá phải có chất lượng như đã thông báo và định trước, và họ cũng chỉ quan tâm đến điều đó – chất lượng hàng hoá.
Việc người tiêu dùng quan tâm đến nhãn hiệu, xuất xứ, nguồn gốc hàng hoá chỉ là bằng chứng chứng tỏ họ quan tâm đến chất lượng đã được thông báo của hàng hoá. Chẳng hạn người ta quan tâm đến lạp xưởng Mai Quế Lộ của công ty Vissan là vì người ta đã biết về chất lượng của nó và họ tin tưởng noù. Một khi hàng hoá đã bị thông báo hoặc có chất lượng thông báo là thấp thì người tiêu dùng cũng sẵn sàng không cần quan tâm đến nó mặc dù nó có mặt ở hầu hết mọi nơi. Có thể người tiêu dùng sẽ chấp nhận hàng giaû nếu chất lượng tương đương hoặc cao hơn hàng thật.
Mặt khác người tiêu dùng cũng rất nhạy cảm với giá cả và mối tương quan giữa giá cả – chất lượng của hàng hoá. Từ quan điểm “hàng nào giá ấy”, người tiêu dùng không quan tâm nhiều đến mối quan hệ giữa giá cả và nguồn gốc (tính “thật”,“giả”) của hàng hoá. Trong nhiều trường hợp thì hàng giả vẫn được người tiêu dùng chấp nhận và tiêu dùng rộng rãi bởi nó có giá cả khá hấp dẫn. Người tiêu dùng thừa biết đây là hàng giả, nhưng nếu so sánh tương quan giữa mức chất lượng và giá cả hàng hoá thì thậm chí hàng giả còn có lợi thế hơn.
Người tiêu dùng luôn tính xem bỏ ra một đồng thì sẽ mua được hàng hoá có mức chất lượng như thế nào. Tất nhiên cũng không loại trừ nhiều trường hợp người tiêu dùng bắt buộc phải lựa chọn hàng giả vì không còn cách lựa chọn nào khác do quá khó khăn về tài chính hoặc họ không có những kiến thức cần thiết đề lựa chọn hàng hoá và phân biệt hàng thật, giả. Không nên tin rằng những người làm hàng giả giúp cho người tiêu dùng có thể mua được các sản phẩm có chất lượng mà nếu là hàng thật thì họ không thể đủ tiền mua. Những người tiêu dùng đang bị lừa phỉnh bởi những nhà cung cấp nhẫn tâm, họ không quan tâm đến lợi ích và an toàn của người sử dụng.
Chỉ trong một số ít trường hợp hàng giả là có chất lượng tương đương hàng thật, nhưng hầu hết các trường hợp, hàng giả có giá trị sử dụng không tương xứng với đồng tiền mà người tiêu dùng phải bỏ ra để mua chúng, 7 cũng như những sản phẩm rượu giả, mỹ phẩm giả, thuốc tân dược giả có chất lượng kém đến nỗi có thể gây chết người. Và như vậy, người tiêu dùng có thể không nhận ra nhưng họ sẽ bị những thiệt hại sau khi mua hàng giả: - Nhận được giá trị thấp so với số tiền mà họ bỏ ra. - Những cam kết bảo đảm về chất lượng như mua hàng chính hiệu sẽ không có. - Nếu sản phẩm bị hư hỏng thì không thể khiếu nại được.
- Sản phẩm họ mua không có thời gian được bảo hành. Ngoài ra, thông qua việc mua hàng giả, người tiêu dùng có thể đang tài trợ cho các tổ chức tội phạm trong nước hay nước ngoài. Hàng giả theo quy định của luật pháp Việt Nam: Người tiêu dùng với tư cách là công dân Việt Nam, luôn được luật pháp Việt Nam bảo vệ những quyền và lợi ích chính đáng của mình. Trong nền kinh tế thị trường, vị trí người tiêu dùng cần phải được đề cao và người tiêu dùng cần phải được bảo vệ trước các hành vi thương mại ngày càng mở rộng và mang tính cạnh tranh cao.
Theo quy định của nghị định 57/CP ngày 31/5/1997, Nghị định 12/1999/NĐ – CP ngày 06/3/1999 và Thông tư 1888/1997 của Bộ Khoa Học – Công Nghệ và Môi Trường hướng dẫn thi hành thì những hàng hoá có một trong các dấu hiệu sau đây thì bị coi là hàng giả: - Hàng hoá mang dấu hiệu hoặc bao bì chứa hàng hoá mang dấu hiệu trùng hoặc tương tự tới mức làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng hoá đang được bảo hộ cho sản phẩm cùng loại của cơ sở khác mà không được chủ văn bằng bảo hộ đồng ý. Mang dấu hiệu có thể là “in”, “dán”, “đính”, “dập khuôn” lên sản phẩm hàng hoá của mình các dấu hiệu trùng hoặc tương tự nhãn hiệu hàng hoaù hoặc tên gọi xuất xứ hàng hoá cho sản phẩm cùng loại của người khác đang được bảo hộ tại cơ quan quản lý Sở hữu trí tuệ (giả nhãn hiệu hàng hoá). Hoặc là dùng tên gọi xuất xứ kèm theo các từ ngữ như “loại”, “kiểu”, “phỏng theo” hoặc các từ tương tự như vậy. 8 - Hàng hoá có nhãn sản phẩm giả mạo, giống hệt, hoặc tương tự với nhãn sản phẩm của hàng hoá cùng loại của cơ sở sản xuất khác đã đăng ký chất lượng.
- Hàng hoá mang nhãn sản phẩm không đúng với nhãn sản phẩm đã đăng ký với cơ quan quản lý Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng. - Hàng hoá ghi dấu phù hợp Tiêu chuẩn Việt Nam khi chưa được giấy chứng nhận và dấu phù hợp Tiêu chuẩn Việt Nam. - Hàng hoá có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó, hoặc có chất lượng dưới mức tối thiểu do Nhà nước quy định (chủ yếu là các chỉ tiêu liên quan đến an toàn, vệ sinh thực phẩm và mội trường).