Chương 1: Cơ sở lý luận chung về hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín Chi nhánh Hà Nội. Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín Chi nhánh Hà Nội. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Nghiệp vụ cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng (CVTD) là hình thức cho vay mà ngân hàng tạm thời chuyển nhượng quyền sử dụng vốn cho khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của họ, với những điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi. Đây là nguồn tài chính quan trọng giúp cho khách hàng (người tiêu dùng) có thể trang trải được những nhu cầu trong cuộc sống như nhu cầu về nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, dịch vụ y tế… Theo TS. Đinh Thế Hiển, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Chiến lược Ngân hàng Eximbank, cho vay tiêu dùng tại Việt Nam chỉ mới trong giai đoạn đầu phát triển, tuy còn khá mới mẻ nhưng với quy mô dân số 90 triệu người, đa số trong đó là độ tuổi trẻ, có thu nhập khá và nhu cầu mua sắm cao thì tiềm năng phát triển hoạt động CVTD tại nước ta là rất lớn.
Các nghiên cứu cũng đều cho thấy CVTD của Việt Nam sẽ phát triển rất mạnh trong thời gian tới. Cụ thể, công ty nghiên cứu thị trường Euromonitor dự báo, trong giai đoạn 2013-2016, thẻ tín dụng sẽ tăng trưởng 20-22%; hàng tiêu dùng tăng 15-17%; cho vay mua nhà tăng 12%; vay mua ô tô tăng 7% và xe máy tăng 5%. Còn theo nghiên cứu của Nhóm nghiên cứu Vietcombank thì trong giai đoạn này, thẻ tín dụng tăng trưởng 25-30%, hàng tiêu dùng tăng 20% và xe máy tăng 10%. Nhận biết được tiềm năng phát triển đó, các ngân hàng hiện nay đang ngày càng chú trọng vào đẩy mạnh hoạt động cho vay khách hàng cá nhân nói chung và CVTD nói riêng.
Đặc điểm hoạt động cho vay tiêu dùng Hoạt động CVTD tài trợ cho mục đích chi tiêu của khách hàng trong đời sống như mua nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt, phương tiện đi lại; nâng cấp sửa chữa nhà cửa; trang trải cho việc học tập trong và ngoài nước của học sinh, sinh viên; trang trải các khoản viện phí; chi phí cho chuyến du lịch… Khách hàng của hoạt động CVTD là các cá nhân và hộ gia đình, đối tượng của hoạt động này là các nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Khác với hoạt động cho vay doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế thì khách hàng của CVTD có số lượng lớn và nhu cầu vay có liên hệ trực tiếp với thu nhập và trình độ văn hóa của họ. Nếu thu nhập của khách hàng cao, họ sẽ có xu hướng tăng tiêu dùng và ngược lại. Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng còn phụ thuộc vào môi trường kinh tế, văn hóa xã hội.
Tùy thuộc vào hình thức vay vốn và mục đích vay mà các khoản vay của CVTD có thời hạn: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Tuy nhiên, khách hàng hiện nay thường vay 1 để mua nhà, mua xe ôtô, du học… nên các khoản vay có hình thức trung và dài hạn là chiếm tỷ trọng lớn. Khách hàng của hoạt động CVTD có số lượng lớn nhưng quy mô của từng hợp đồng lại nhỏ hơn quy mô của các hoạt động cho vay khác do nguồn tài trợ chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của khách hàng. Điều này dẫn tới chi phí mà ngân hàng hàng bỏ ra cho một hợp đồng vay là cao (bao gồm chi phí giao dịch, thẩm định, xét duyệt, quản lý khoản vay…).
Ngoài ra vì khách hàng của CVTD là cá nhân và hộ gia đình nên việc tìm kiếm các thông tin về tài chính của khách hàng cũng khó khăn và tốn nhiều chi phí hơn các hoạt động cho vay khác. Do việc tìm kiếm và thẩm định thông tin của khách hàng cá nhân, hộ gia đình khó khăn hơn so với các nhóm khách hàng khác nên việc quản lý, kiểm soát vốn vay của khách hàng trong CVTD cũng gặp nhiều rủi ro hơn. Hơn nữa, tình hình của khách hàng CVTD có thể thay đổi tùy theo tình trạng sức khỏe và công việc của họ nên nguồn trả nợ cho ngân hàng thường không ổn định và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như chu kì nền kinh tế, cơ cấu kinh tế, trình độ khách hàng. Nếu một trong những yếu tố kể trên có những biến động ngược lại với dự đoán của ngân hàng sẽ gây ra rủi ro cho hoạt động CVTD.
Lãi suất CVTD thường cao hơn các khoản vay khác của NHTM. Nguyên nhân là do các chi phí của CVTD lớn và các khoản vay của CVTD có mức độ rủi ro cao. Thông thường đa phần các khoản CVTD được định giá dựa trên lãi suất cơ bản cộng với mức lợi nhuận cận biên và phần bù rủi ro. Nhu cầu tiêu dùng của khách hàng thường ít co giãn với lãi suất.
Mặc dù vậy, khi mà hoạt động cho vay tiêu dùng được các NHTM chú trọng nhiều, cạnh tranh gay gắt hơn thì lãi suất vẫn là một yếu tố giúp cho các ngân hàng có thể thu hút được khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh. Tài sản đảm bảo (TSĐB) là điều kiện quan trọng để ngân hàng ra quyết định cho khách hàng vay vốn cũng như quy mô của khoản vay. Do hoạt động CVTD có rủi ro cao nên các khoản vay có TSĐB (TSĐB) hoặc được người thứ ba bảo lãnh sẽ làm tăng mức độ tin cậy hơn, đồng thời giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro hơn các khoản vay không có TSĐB. Tuy nhiên hiện nay để thu hút khách hàng thì ngân hàng cũng cho khách hàng vay mà không cần có TSĐB.
Vai trò của hoạt động cho vay tiêu dùng CVTD là dịch vụ đem lại nhiều lợi ích cho tất cả các đối tượng tham gia. Đối với người tiêu dùng CVTD có ý nghĩa rất lớn đối với các khách hàng là người tiêu dùng. Nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân và hộ gia đình là rất lớn và thường xuyên nhưng không phải lúc nào họ cũng có đủ nguồn lực tài chính để đáp ứng các nhu cầu đó. Nhờ CVTD, họ được hưởng các tiện ích, được sử dụng các hàng hoá và dịch vụ mình mong muốn 2 trước khi tích luỹ đủ tiền.
Khi đáp ứng đủ các điều kiện để được CVTD, người đi vay có thể mua sắm các hàng hoá, nhất là các bất động sản ngay ở thời điểm hiện tại khi giá cả của chúng đang giảm, hoặc có thể đi du lịch đúng thời gian. Đặc biệt, trong các trường hợp chi tiêu cấp bách như nhu cầu về y tế, giáo dục, vai trò CVTD lại càng to lớn và rõ nét. Hiện nay, khi mà các ngân hàng càng ngày càng chú trọng đến hoạt động cho vay tiêu dùng thì ngoài việc thỏa mãn được nhu cầu tiêu dùng của mình, khách hàng còn được hưởng rất nhiều ưu đãi cũng như tiện ích. Khách hàng có thể vay vồn với nhiều kỳ hạn khác nhau và thỏa thuận mức lãi suất vay phù hợp với mục đích vay của mình, có thể sử dụng các dịch vụ khác như chuyển tiền, mở thẻ ATM, Master Card, Internet Banking, Mobile Banking,… Đối với khoản vay tiêu dùng tại ngân hàng, khách hàng sẽ có trách nhiệm và ý thức trả nợ, đó động lực để phấn đấu, để nâng cao thu nhập trong tương lai.
Hoạt động cho vay tiêu dùng giúp cải thiện đời sống dân cư, giúp họ có cuộc sống tiện nghi đầy đủ, tinh thần thoải mái hơn, nâng cao chất lượng cuộc sống. Đối với nền kinh tế Hoạt động CVTD có vai trò quan trọng trong việc kích cầu, tức là làm cho chi tiêu của dân cư tăng lên, nhu cầu về hàng hoá dịch vụ phục vụ cho sinh hoạt cũng tăng lên. Khi nhu cầu về tiêu dùng tăng sẽ kích thích sản xuất phát triển, nhờ đó, các cơ hội việc làm được tạo ra nhiều hơn, tỷ lệ thất nghiệp cũng như các tệ nạn xã hội giảm, đồng thời thu nhập của người dân tăng lên. Ngoài ra, các sản phẩm CVTD của ngân hàng thoả mãn tốt nhất các nhu cầu của người tiêu dùng, do đó góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật chất cũng như tinh thần của họ, từ đó góp phần làm cho xã hội phát triển lành mạnh hơn.
CVTD phát triển làm tăng cơ hội làm ăn của các doanh nghiệp. Do được hỗ trợ và khuyến khích, nhu cầu của khách hàng sẽ ngày càng đa dạng và phong phú hơn, do đó các nhà sản suất có cơ sở để đưa ra những quyết định sản xuất kinh doanh đúng đắn, phù hợp với nhu cầu của khách hàng, giúp cho hoạt động xản xuất kinh doanh ngày càng phát triển bền vững. Rõ ràng, CVTD không chỉ có vai trò quan trọng đối với các chủ thể như người tiêu dùng, ngân hàng thương mại, nhà sản xuất mà còn có ý nghĩa vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Đối với ngân hàng Hoạt động cho vay tiêu dùng là hoạt động chứa nhiều rủi ro, nhưng nó lại có tiềm năng phát triển rất lớn.
Bên cạnh rủi ro tiềm ẩn thì ngân hàng cho vay thu đươc lãi suất phù hợp với các khoản vay đó giúp tăng thu nhập của ngân hàng. Cho vay tiêu dùng giúp tăng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, từ đó thu hút được đối tượng khách hàng mới, mở rộng quan hệ 3 với khách hàng, nâng cao uy tín của ngân hàng. Bằng cách mở rộng mạng lưới, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ, số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ, tiện ích của ngân hàng sẽ ngày càng nhiều hơn, điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh của ngân hàng. Ngân hàng không chỉ quan tâm đến các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn, mà còn quan tâm đến những nhu cầu nhỏ bé, cần thiết của người tiêu dùng, đáp ứng nguyện vọng cải thiện cuộc sống của người tiêu dùng.
Từ đó nâng cao uy tín và năng lực cạnh tranh của ngân hàng.