CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.3 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm nguồn nhân lực: Đứng ở các góc độ nghiên cứu khác nhau nên có nhiều khái niệm về nguồn nhân lực khác nhau. Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu này, chúng ta xem xét và đưa ra một số khái niệm đơn giản về nguồn nhân lực như sau : Nguồn nhân lực là bao gồm toàn bộ con người của một quốc gia, địa phương hay của một tổ chức. Trong phạm trù kinh tế học và lao động xã hội thì khái niệm nguồn nhân lực là bao gồm những người đang tham gia hoạt động lao động trong các tổ chức ở độ tuổi từ 15 tuổi đến hết 60 tuổi đối với nam giới, và hết 55 tuổi đối với nữ giới.
Trong tổ chức doanh nghiệp thì : “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động đang làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” ( PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân, Quản trị nhân lực, xuất bản 2004 ). Ngoài ra, “ Nhân lực của doanh nghiệp là toàn bộ những khả năng lao động mà doanh nghiệp cần và huy động được cho việc thực hiện, hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp. Nhân lực của doanh nghiệp còn gắn nghĩa với sức mạnh của lực lượng lao động; sức mạnh của đội ngũ người lao động”.TS Đỗ Văn Phức , Quản lý nhân lực của doanh nghiệp, xuất bản 2005). Như vậy trong đề tài nghiên cứu này khái niệm về Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động và đang làm việc trong các tổ chức doanh nghiệp.
Là toàn bộ những khả năng lao động mà doanh nghiệp cần và huy động được cho việc thực hiện hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp. Khái niệm về Chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Khái niệm chiến lược được nhắc đến nhiều trong lịch sử đặc biệt là trong quân sự, nó diễn đạt các phương cách để đánh thắng trong một cuộc chiến. Còn với kinh tế học: - Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty.
Sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt nhiều việc… và Nguyễn Long Thành- QTKD 2013 5 Phân tích một số giải pháp chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngành chè Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020 kết hợp chúng với nhau.cốt lõi của chiến lược là “lựa chọn cái chưa được làm” (GS. Michael Porter trường Đại học Havward Mỹ - Cha đẻ của chiến lược cạnh tranh của thế giới_) - “ Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất, và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển” (GS.TS Bùi Văn Nhơn, Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội, xuất bản 2006 ) Trong khái niệm này chất lượng nguồn nhân lực được hiểu trong các phạm trù như sau: • Thể lực của nguồn nhân lực: sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần. • Trí lực của nguồn nhân lực là trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động. Nội dung phát triển nguồn nhân lực như trên bao gồm ba loại hoạt động: giáo dục, đào tạo và phát triển.
Trong đó : • Giáo dục: được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tương lai. • Đào tạo : Được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn • Phát triển nguồn nhân lực : Theo quan điểm sử dụng năng lực con người của Tổ chức quốc tế về lao động, phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ sự gia tăng trình độ lành nghề, mà bên cạnh sự phát triển năng lực còn phải làm cho con người có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực có rất nhiều định nghĩa khác nhau.
Tuy nhiên tất cả đều có một điểm chung, đó là việc phân tích nhu cầu nhân lực trong Nguyễn Long Thành- QTKD 2013 6 Phân tích một số giải pháp chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngành chè Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020 tương lai và xây dựng các kế hoạch cụ thể để có nguồn nhân lực đó phục vụ cho mục tiêu sản xuất kinh doanh, và được thể hiện bằng công tác kế hoạch hoá nguồn nhân lực : • “Kế hoạch hoá nguồn nhân lực (KHHNNL) là tiến trình triển khai thực hiện các kế hoạch và chương trình nhằm đảm bảo rằng cơ quan sẽ có đúng số lượng, đúng chất lượng được bố trí đúng nơi, đúng lúc và đúng chỗ” (TS. Nguyễn Hữu Thân, Quản trị nhân lực, xuất bản 2006 ). • “Kế hoạch hoá nguồn nhân lực là quá trình đánh giá, xác định nhu cầu về nguồn nhân lực để đáp ứng mục tiêu công việc của tổ chức và xây dựng các kế hoạch lao động để đáp ứng các nhu cầu đó” (PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân, Quản trị nhân lực, xuất bản 2005). • “Hoạch định nguồn nhân lực là quá trình nghiên cứu, xác định nhu cầu nhân lực, đưa ra chính sách và thực hiện các chương trình, hoạt động bảo đảm cho doanh nghiệp có đủ nguồn lực với các phẩm chất, kỹ năng phù hợp để thực hiện công việc có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao” ( PGS.TS Trần Kim Dung, Quản trị nguồn nhân lực, xuất bản 2006 ).
Qua các khái niệm trên chúng ta rút ra giải pháp chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp là chuỗi các hoạt động gồm : - Xác định các nhu cầu về nguồn nhân lực trong tương lai. - Bố trí phối hợp con người và chuỗi các hoạt động hợp lý để thực hiện được chương trình mục tiêu đề ra phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp. - Kết hợp yếu tố thuận lợi, đưa ra các giải pháp phát triển nguồn nhân lực phù hợp. Nội dung thực hiện kế hoạch hoá nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Hoạch định nguồn nhân lực là quá trình nghiên cứu, xác định nhu cầu nhân lực, đưa ra chính sách và thực hiện các chương trình, hoạt động bảo đảm cho doanh nghiệp có đủ nguồn lực với các phẩm chất, kỹ năng phù hợp để thực hiện công việc có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao. Nguyễn Long Thành- QTKD 2013 7 Phân tích một số giải pháp chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngành chè Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020 1.1 Xác định nhu cầu nhân lực. Xác định nhu cầu nhân lực là nhiệm vụ trước tiên của doanh nghiệp khi thực hiện chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh. Trong đó, để xác định được nhu cầu nhân lực thì doanh nghiệp phải dựa vào mục tiêu kinh doanh của mình để từ đó ước tính và định mức lực lượng lao động cần thiết đáp ứng với nhu cầu sản xuất.
Định mức lao động phụ thuộc vào một số tiêu chí, trong đó phải kể đến là : + Sản phẩm hoặc dịch vụ của công ty. + Sản lượng (công suất) của sản phẩm. + Qui trình công nghệ sản xuất. + Mức độ hiện đại của các dây chuyền, thiết bị.
+ Xác định các bộ phận quản lý, phục vụ, phụ trợ kèm theo Nội dung của định mức lao động chính là phân chia quá trình sản xuất ra các bộ phận, xác định kết cấu và trình tự hợp lý thực hiện các bộ phận thực hiện các bước công việc, phát hiện bất hợp lý trong quá trình thực hiện hoàn thiện chúng trên cơ sở phân công và hợp tác lao động hợp lý. Cải tiến tổ chức và phục vụ nơi làm việc. Cải thiện điều kiện lao động, hợp lý hóa các phương pháp và thao tác lao động, xây dựng chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý. Tiến hành khảo sát, xác định các loại thời gian làm việc và những nguyên nhân gây ra những lãng phí nhằm xây dựng các mức và tiêu chuẩn lao động.
Đưa ra các mức tiêu chuẩn vào trong sản xuất; thường xuyên theo dõi tình hình thực hiện mức, điều chỉnh những sai, mức lạc hậu, có cơ chế thích hợp để khuyến khích hoàn thiện định mức kỹ thuật lao động trong doanh nghiệp. Tuỳ theo đặc điểm và điều kiện sản xuất kinh doanh, dịch vụ và công tác, lựa chọn áp dụng các loại mức sau đây: 1) Mức thời gian: Lượng thời gian cần thiết được quy định để hoàn thành một công việc (bước công việc, sản phẩm, một chức năng) cho một công nhân (nhóm công nhân) của một nghề nào đó, có trình độ thành thạo tương ứng với mức độ phức tạp của công việc phải thực hiện trong những điều kiện tổ chức, kỹ thuật sản xuất nhất định. 2) Mức sản lượng: Nguyễn Long Thành- QTKD 2013 8 Phân tích một số giải pháp chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngành chè Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020 Số lượng sản phẩm được quy định để một công nhân (nhóm công nhân) có trình độ thành thạo phù hợp với trình độ phức tạp của công việc phải hoàn thành trong một đơn vị thời gian (ngày, giờ…) với những điều kiện tổ chức, kỹ thuật sản xuất nhất định. 3) Mức phục vụ: Số lượng đối tượng (máy móc, thiết bị) được quy định để một công nhân (nhóm công nhân) có trình độ thành thạo tương ứng trình độ phức tạp của công việc phải phục vụ trong một đơn vị thời gian và trong những điều kiện tổ chức, kỹ thuật sản xuất nhất định.
- Mức thời gian phục vụ: Lượng thời gian được quy định để phục vụ một đơn vị phục vụ trong những điều kiện tổ chức, kỹ thuật sản xuất hợp lý và trình độ thành thạo của công nhân tương ứng với trình độ phức tạp của công việc. - Mức số lượng người phục vụ: Lượng lao động được quy định để hoàn thành công việc (sản phẩm) trong những điều kiện tổ chức, kỹ thuật hợp lý và trình độ thành thạo của công nhân phù hợp với trình độ phức tạp của công việc.