PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Nhu cầu sử dụng nƣớc ngày càng gia tăng do sự phát triển kinh tế xã hội, dân số tăng nhanh, tốc độ đô thị hóa ở mức cao, do vậy, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ đối mặt với nhiều thách thức trong việc đảm bảo nhu cầu sử dụng nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân và sản xuất phát triển kinh tế. Khu vực huyện Bình Chánh - Thành phố Hồ Chí Minh nằm phía Tây Nam Thành phố giáp ranh với tỉnh Long An, với dân số hiện tại 711.262 ngƣời (huyện đông dân nhất Việt Nam) là khu vực cuối nguồn của các nhà máy, khu vực này dân số cơ học đang tăng nhanh, hạ tầng đang phát triển mạnh mẽ, một số khu vực xảy ra hiện tƣợng nƣớc yếu đặc biệt vào mùa khô, hệ thống ống truyền tải chƣa phát triển đồng bộ và phủ khắp địa bàn. Nhu cầu đời sống của ngƣời dân ngày càng cao, việc đáp ứng nhu cầu sử dụng nƣớc, giảm tối đa việc gián đoạn cấp nƣớc nhằm nâng cao dịch vụ khách hàng cũng nhƣ hạn chế tối đa thiệt hại khi xảy ra sự cố trên mạng lƣới truyền tải, đặt ra bài toán hệ thống cấp nƣớc cần phải an toàn hơn cũng nhƣ đảm bảo độ tin cậy trên hệ thống ống truyền tải.
Xuất phát từ những nhu cầu cấp bách trên, với đề tài: “Nghiên cứu giải pháp cấp nƣớc an toàn mạng lƣới truyền tải huyện Bình Chánh - TP.HCM và vùng giáp ranh tỉnh Long An’’ là rất cần thiết và đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tiễn của Xí nghiệp Truyền dẫn Nƣớc sạch (đơn vị trực thuộc Tổng Công ty Cấp nƣớc Sài Gòn TNHH Một Thành viên) cũng nhƣ ứng dụng vào thực tế. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Đánh giá đƣợc hiện trạng của mạng lƣới truyền tải huyện Bình Chánh - TP.HCM và vùng giáp ranh với tỉnh Long An. Nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến việc mất an toàn cấp nƣớc. Đề xuất giải pháp bảo đảm cấp nƣớc an toàn trên mạng truyền tải huyện Bình Chánh - TP.HCM và vùng giáp ranh tỉnh Long An.
ĐỐI TƢỢNG - PHAM VI NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu Là hệ thống mạng lƣới ống truyền tải nƣớc sạch từ các Nhà máy nƣớc cung cấp nƣớc sạch đến 10 đơn vị phân phối nƣớc cho khách hàng (08 Công ty Cổ phần và 02 Xí nghiệp Cấp nƣớc) tại Thành phố Hồ Chí Minh và vùng giáp ranh tỉnh Long An. Hệ thống mạng truyền tải này có đƣờng kính từ 300mm - 2400mm đang đƣợc Xí nghiệp Truyền dẫn Nƣớc sạch quản lý, khai thác, vận hành.2 Phạm vi nghiên cứu Khu vực huyện Bình Chánh và vùng giáp ranh với tỉnh Long An. CÁCH TIẾP CẬN Tiếp cận hệ thống mạng lƣới theo thực tế: tìm hiểu quy trình vận hành, khai thác, quy mô từ đó tính toán, phân tích, hệ thống tổng thể và chi tiết. Tiếp cận lý thuyết: Các quy định, quy trình nội bộ, quy trình phối hợp với các cơ quan, đơn vị đang áp dụng.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Tìm hiểu mô hình, cơ chế hoạt động của hệ thống truyền tải tại Xí nghiệp Truyền dẫn Nƣớc sạch. Đánh giá tổng quan tình hình cấp nƣớc tại huyện Bình Chánh và vùng giáp ranh nằm trên địa phận tỉnh Long An. Cơ sở khoa học và thực tiễn đề ra giải pháp cấp nƣớc an toàn cho huyện Bình Chánh và vùng giáp ranh nằm trên đại phận tỉnh Long An. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phƣơng pháp thu thập; Phƣơng pháp thống kê, phân tích; Phƣơng pháp đánh giá; Phƣơng pháp kế thừa; Phƣơng pháp sử dụng mô hình thủy lực và ứng dụng GIS; 2 Phƣơng pháp dự báo và sử dụng sơ đồ, họa đồ; Phƣơng pháp chập bản đồ.
KẾT QUẢ DỰ KIẾN VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI Đánh giá đƣợc thực trạng mạng lƣới truyền tải khu vực huyện Bình Chánh và vùng giáp ranh với địa phận tỉnh Long An. Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến công tác quản lý kỹ thuật, công tác cải tạo phát triển mạng lƣới, khai thác vận hành mạng truyền tải. Đề xuất giải pháp bảo đảm cấp nƣớc an toàn mạng lƣới truyền tải khu vực huyện Bình Chánh và vùng giáp ranh nằm trên địa phận tỉnh Long An. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CẤP NƢỚC AN TOÀN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.1 Cấp nƣớc an toàn trên thế giới 1.1 Thực trạng về nhu cầu sử dụng Nƣớc sạch luôn đƣợc coi là yếu tố mang tính chất sống còn đối với mỗi gia đình, mỗi quốc gia và cũng là vấn đề lớn mà thế giới phải đối mặt trong nhiều năm qua.
Hiện nay, trên thế giới còn 2,2 tỷ ngƣời đang sống trong tình trạng không đƣợc tiếp cận với nƣớc an toàn, khan hiếm nƣớc (nguồn: Môi trƣờng và Đô thị). Báo cáo Ngân hàng Thế giới ƣớc tính, tới năm 2030, nhu cầu về nguồn nƣớc của con ngƣời sẽ vƣợt lƣợng cung tới 40%. Theo Liên Hợp Quốc đến năm 2050, con số “khát nƣớc” sẽ đạt tới 3,9 tỷ ngƣời, nghĩa là cứ 5 ngƣời trên thế giới sẽ có hơn 2 ngƣời phải đối mặt với tình trạng thiếu nƣớc sạch. Do vậy, các quốc gia cần có những hành động thiết thực, mang tính toàn cầu để giải quyết cuộc khủng hoảng nƣớc.
Ngày 22 tháng 3 hàng năm đã đƣợc Liên Hiệp Quốc chọn làm Ngày Nƣớc Thế giới - ngày để con ngƣời nhìn lại tầm quan trọng của tài nguyên quý giá bậc nhất trên Trái đất.2 Biện pháp thực hiện cấp nước an toàn một số nước trên thế giới Ở Mỹ Theo quy định của luật pháp Mỹ, các hồ chứa nƣớc đầu nguồn phục vụ nƣớc sinh hoạt đƣợc coi là mục tiêu bảo vệ an toàn trọng yếu. Tình trạng nguồn nƣớc ở các hồ chứa này đƣợc kiểm tra định kỳ và báo cáo lên cơ quan quản lý 6 tháng 1 lần. Cụ thể: Hồ chứa nƣớc Dianmond Valley nằm cách trung tâm thành phố Los Angeles (Mỹ) 150km về phía Đông Nam, với sức chứa hơn 1. Đây là hồ chứa lớn nhất thuộc miền Nam bang California (Mỹ), đảm bảo cung cấp nguồn nƣớc sạch cho hơn 19 triệu dân thuộc 12 Hạt và 14 thành phố trong vòng 6 tháng.
Vì thế nó đƣợc bảo vệ hết sức nghiêm ngặt với hệ thống giám sát quanh hồ 24/24h. Nhu cầu sử dụng nƣớc ở Mỹ cao khoảng 371 lít/ngƣời. Ở Úc 4 Phƣơng pháp tái chế nƣớc và khử muối từ nƣớc biển có chi phí cao và tiêu tốn năng lƣợng. Tuy nhiên, hai phƣơng pháp này không phụ thuộc vào lƣợng mƣa và có thể hỗ trợ các đập chứa nƣớc cung cấp nƣớc cho lƣợng dân số đang tăng trƣởng ở c.
Tái chế nƣớc có thể bổ sung hàng triệu lít nƣớc cho nguồn cung cấp nƣớc đô thị. Với công nghệ tiên tiến hơn, trong 5 năm vừa qua, tỷ lệ tái chế trong nguồn cung cấp nƣớc tổng thể duy trì ở mức 4%. Đồng thời các nhà máy khử muối nƣớc biển cung cấp khoảng 0,3% tổng lƣợng nƣớc sinh hoạt. Ngoài ra, phƣơng pháp sử dụng các thiết bị tiết kiệm nƣớc hay thiết bị phát hiện nƣớc rò rỉ, các hộ gia đình có thể tiết kiệm nƣớc tiêu thụ, giảm áp lực với cơ sở hạ tầng nƣớc sinh hoạt.
Do vậy, thông qua chƣơng trình quản lý nhu cầu và giảm tỉ lệ nƣớc rò rỉ, tăng cƣờng nƣớc tái chế, tại Sydney đã duy trì nƣớc sử dụng của những năm 1970 khi dân số đã tăng thêm 1,3 triệu ngƣời. (nguồn Cục Tài nguyên Nước) Ở Pháp Chính phủ Pháp muốn giảm sử dụng nƣớc bằng cách khuyến khích tái chế nƣớc thải và khuyến khích ngƣời tiêu dùng tiêu thụ ít nƣớc hơn khi dòng chảy của các con sông dần chậm lại do biến đổi khí hậu. Bộ Môi trƣờng Pháp cho biết muốn giảm 10% lƣợng nƣớc sử dụng trong 5 năm và 25% trong 15 năm. Mục tiêu trên nhằm ứng phó với tƣơng lai “khô hạn” của Pháp.
Chính phủ Pháp dự báo rằng lƣu lƣợng xả trung bình của các con sông Pháp có thể giảm 10 - 40% trong nửa thế kỷ tới. Để giảm lƣợng nƣớc sử dụng, Pháp dự kiến tăng giá nƣớc cho những ngƣời tiêu dùng lớn, chẳng hạn nhƣ các hộ gia đình có hồ bơi. Ở Pháp, một ngƣời trung bình sử dụng khoảng 150 lít nƣớc mỗi ngày. Chính phủ Pháp cũng sẽ thắt chặt yêu cầu sử dụng nƣớc đối với một số ngành công nghiệp nhƣ ngành xây dựng từ năm 2022.
5 Đến năm 2025, Pháp cũng muốn tăng gấp ba lần lƣợng nƣớc mƣa sử dụng và nƣớc thải tái chế để tƣới cây, xả nhà vệ sinh và các mục đích sử dụng khác không yêu cầu tiêu chuẩn nƣớc uống. Tại Pháp, chỉ có khoảng 1% nƣớc thải đƣợc tái chế, so với khoảng 10% ở Tây Ban Nha và Ý. Ngoài ra, tại các nƣớc có nền kinh tế phát triển: Mỹ, Pháp, Hà Lan, Đức, Singapore… ngƣời dân có thể sử dụng nƣớc cấp từ hệ thống cấp nƣớc đô thị để uống trực tiếp không qua công đoạn xử lý thêm: đun sôi hoặc sử dụng các thiết bị khác.2 Cấp nƣớc an toàn tại Việt Nam 1.1 Tình hình cấp nước an toàn tại các hệ thống cấp nước ở Việt Nam Thời gian qua ngành nƣớc nhận đƣợc sự quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc về sự đầu tƣ mở rộng về quy mô ở nông thôn cũng nhƣ tại các đô thị, các nguồn vốn đầu tƣ đƣợc mở rộng hơn, chất lƣợng phục vụ đƣợc cải thiện rõ rệt, tuy nhiên tình hình cấp nƣớc trong những năm tới vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn. Việc ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-BXD ngày 31/12/2008 đƣợc các ngành đặc biệt đƣợc UBND các tỉnh, thành phố quan tâm và các đơn vị cấp nƣớc các địa phƣơng hƣởng ứng triển khai thực hiện, đồng thời Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng đánh giá cao và Việt Nam là một trong 08 nƣớc khu vực Châu Á ban hành một văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến cấp nƣớc an toàn và tổ chức triển khai thực hiện tại các đô thị trên quy mô cả nƣớc.
Quy trình thực hiện và nhiều nội dung phù hợp với hƣớng dẫn của Tổ Chức Y tế thế giới. Đến cuối năm 2020, ngành nƣớc Việt Nam đứng trƣớc nhiều cơ hội và thách thức, hiện tổng công suất thiết kế cấp nƣớc đạt 10,6 - 10,9 triệu m3/ngày đêm; nhiều nơi thiếu nƣớc, nhƣng cũng có đô thị thừa nƣớc, không khai thác hết công suất, tỷ lệ ngƣời dân đô thị đƣợc cấp nƣớc qua hệ thống cấp nƣớc tập trung đạt 89 - 90%; tỷ lệ thất thoát nƣớc sạch đạt khoảng 19%; chất lƣợng nƣớc về cơ bản đáp ứng đƣợc yêu cầu của ngƣời dân. Tuy nhiên, Hội Cấp thoát nƣớc Việt Nam cũng đƣa ra cảnh báo, hiện, nguy cơ mất an toàn trong cấp nƣớc rất cao.