Mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Các giải pháp, kiến nghị 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm vùng đệm và vai trò của vùng đệm trong việc bảo tồn tài nguyên rừng tại các VQG 2. Khái niệm vùng đệm Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với khu vực đặc dụng, có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm hại khu rừng đặc dụng. Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắt, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ [6].
Chia vùng đệm thành 2 loại chính: + Vùng đệm có dân sinh sống. + Vùng đệm không có dân sinh sống. – Vị trí vùng đệm: nằm liền kề ngoài khu bảo tồn (KBT), bao quanh KBT và không thuộc KBT. – Xác định ranh giới vùng đệm: Gồm ranh giới phía bên trong và phía bên ngoài vùng đệm: + Ranh giới phía bên trong vùng đệm: Là ranh giới giữa KBT và vùng đất đai bao quanh KBT.
+ Ranh giới phía bên ngoài vùng đệm: Là ranh giới giữa vùng đất bao quanh KBT với vùng đất không trực tiếp bao quanh KBT; ranh giới đó thường được xác định bởi các mốc tự nhiên hoặc do con người tạo ra như: vách núi, đường mòn, đường ô tô, đường sông, đường sắt, các con suối, hồ chứa nước… 2. Vai trò của vùng đệm trong việc bảo tồn tài nguyên rừng tại các VQG. Trong thực tiễn, việc hoạch định vùng đệm cho các khu bảo tồn thiên nhiên VQG đã phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, lần đầu tiên vùng đệm 6 được đưa vào quy hoạch cho VQG Cúc Phương và sau đó là các khu bảo tồn thiên nhiên và VQG khác.
Tuy nhiên, khó có một ranh giới rõ rệt được xác lập giữa vùng đệm và khu bảo tồn nội vi. Điều đó cho thấy sự tồn tại của vùng đệm có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững của các khu bảo tồn thiên nhiên và VQG. Theo Võ Quý (1993, 1997) chức năng chính của vùng đệm gồm: Chức năng vùng đệm xã hội: Việc quản lý vùng đệm trước hết nhằm cung cấp các sản phẩm thiết yếu đối với cuộc sống của người dân địa phương. Việc sử dụng những sinh vật hoang dã của vùng đệm có tầm quan trọng thứ yếu.
Tuy nhiên, việc sử dụng đất đai của cư dân ở đây không được mâu thuẫn với mục tiêu chính của khu bảo tồn. Chức năng vùng đệm mở rộng: Việc quản lý vùng đệm nhằm mục đích mở rộng phạm vi của môi trường sống có trong khu bảo tồn sang vùng đệm, nhờ đó mà mở rộng môi trường sống của các loài hoang dã có trong khu bảo tồn. Từ đó có thể hiểu, vùng đệm chính là khu vực diễn ra sự trao đổi lợi ích giữa các hoạt động kinh tế dân sinh của cộng đồng dân cư địa phương và các hoạt động của các loại sinh vật hoang dã vốn có trong khu bảo tồn, trên cơ sở đôi bên cùng có lợi. Khái niệm sinh kế, tài sản sinh kế và sinh kế bền vững a.
Sinh kế Một sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, đường xá) và các hoạt động cần có để kiếm sống [10]. Có quan điểm khác cho rằng: Theo Uỷ ban Phát triển Quốc tế (Vương quốc Anh), một sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: Nguồn lực và khả năng mà con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế. Kết quả của sinh kế là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng. Nhờ các chiến lược sinh kế mang lại cụ thể là thu nhập cao hơn, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn lương thực và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên [11].
Sinh kế bền vững. Hướng phát triển sinh kế cho người dân vùng đệm tại các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia trong và ngoài nước là sinh kế bền vững. Trước 7 khi xem xét vấn đề sinh kế bền vững chúng ta cần tìm hiểu một số khái niệm về phát triển bền vững. Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển thì “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”.
Hội nghị môi trường toàn cầu Rio de Janerio (6/1992) đưa ra thuyết phát triển bền vững; nghĩa là sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ Môi trường một cách khoa học đồng thời với sự phát triển kinh tế. Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai [11]. Phát triển là mô hình phát triển mới trên cơ sở ứng dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của con người thế hệ hiện nay mà không làm hại cho thế hệ mai sau. Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ.
Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ. Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai. Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này, phải hội đủ những nguyên tắc sau: Lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân, Xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, Tổng thể, Thực hiện ở nhiều cấp, Trong mối quan hệ với đối tác, Bền vững và Năng động. Một sinh kế được xem là bền vững khi con người có thể đối phó và những phục hồi từ những áp lực và các cú sốc đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản cả ở hiện tại lẫn trong tương lai mà không gây tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên.
Tài sản sinh kế. Khái niệm tài sản sinh kế rất mềm dẻo và tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể của địa phương nơi áp dụng. DFID (1999) đã xây dựng một cách cụ thể các tính chất 8 của năm tài sản sinh kế. Nói chung, tài sản con người (vốn con người) thể hiện kỹ năng, sự hiểu biết, kiến ức, khả năng của lao động và tình trạng sức khỏe tốt giúp cho con người có khả năng theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của họ.
Ở cấp độ hộ gia đình, tài sản con người bao gồm số lượng và chất lượng của lao động. Số lượng và chất lượng của lao động biến động theo quy mô hộ gia đình, kỹ năng, tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần,năng lực lãnh đạo, v. Khái niệm hộ, hộ nông dân và kinh tế nông hộ. * Khái niệm hộ - Hô ̣ gia đình, tập những người có quan hệ vợ chồng, họ hàng huyết thống,cùng chung nơi ở và một số sinh hoạt cần thiết khác như ăn, uống.Tuy nhiên cũng có thể có một vài trường hợp một số thành viên của hộ không có họ hàng huyết thống, nhưng những trường hợp này rất ít xảy ra.
- Hộ gia đình hay còn gọi đơn giản là hộ là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung (nhân khẩu). Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung. Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai [13]. Hộ gia đình được phân loại như sau: Hộ một người (01 nhân khẩu) Là hộ chi có một người đang thực tế thường trú tại địa bàn.
Hộ hạt nhân: Là loại hộ chỉ bao gồm một gia đình hạt nhân đơn (gia đình chỉ có 1 thế hệ) và được phân tổ thành: Gia đình có một cặp vợ chồng có con đẻ hoặc không có con đẻ hay bố đẻ cùng với con đẻ, mẹ đẻ cùng với con đẻ. Hộ mở rộng: Là hộ bao gồm gia đình hạt nhân đơn và những người có quan hệ gia đình với gia đình hạt nhân. Ví dụ: một người cha đẻ cùng với con đẻ và những người thân khác, hoặc một cặp vợ chồng với người thân khác; Hộ hỗn hợp: Là trường hợp đặc biệt của loại Hộ mở rộng [13]. 9 * Khái niệm hộ nông dân - Là hộ gia đình mà hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là nông nghiệp.
Ngoài các hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn có thể tiến hành thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ. - Hô ̣ nông dân là mô ̣t hay nhiề u người c ùng được nhà nước quản lý chung mô ̣t sổ hô ̣ khẩ u,có nguồn thu nhập chính từ sản xuất Nông Nghiệp đem lại. Hô ̣ nông dân xuấ t phát từ viê ̣c quản lý nhân khẩ u của Nhà nước , nó có từ lâu đời cho nên nó gầ n như là hiể n nhiên. * Khái niệm kinh tế nông hộ Kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) và mục đích của loạt hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình (không phải mục đích chính là sản xuất hàng hoá để bán).Tuy nhiên cũng cần có sự chú ý ở đây là các hộ gia đình cũng có thể sản xuất để trao đổi nhưng ở mức độ hạn chế.
Có một thực tế cần có sự phân biệt rõ ràng giữa kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại [13]. Những chủ chương, chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội các vùng đệm VQG.