Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm môi trường Trong tiếng Anh, “environment” có nghĩa là môi trường, từ này có nguồn gốc từ một từ tiếng Pháp “environner”, có nghĩa là bao quanh một điểm nào đấy, hay tất cả những gì bao quanh một điểm trung tâm. Theo cách hiểu như vậy, môi trường có thể được hiểu là toàn bộ điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa bao quanh có ảnh hưởng đến cuộc sống của một cá nhân hay cộng đồng.
Vấn đề môi trường cũng có thể được coi là bao gồm các vấn đề như tắc nghẽn giao thông, tội phạm, tiếng ồn v. Xét về mặt địa lý, môi trường có thể hiểu là một khu vực nào đó hoặc là toàn bộ hành tinh của chúng ta. Môi trường là tổ hợp các thành phần của thế giới vật chất làm cơ sở cho sự tồn tại, phát triển của thế giới sinh vật và con người. Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2014 định nghĩa “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [22, tr.
“Môi trường” cũng có thể được hiểu là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người, sinh vật ấy. Như vậy, chúng ta có thể hiểu các thành tố của môi trường bao gồm: Môi trường tự nhiên: là những gì vốn có trong tự nhiên, là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học có quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành hệ thống tự nhiên và vận động theo những quy luật của tự nhiên, ví dụ như: đất, nước, không khí, … Môi trường nhân tạo: là những gì con người tạo ra đưa vào môi trường như chất thải (rắn, lỏng, khí) hoặc làm biến đổi, thay đổi các thành phần của môi trường tự nhiên, làm cho môi trường tự nhiên (ở khu vực nhất định) trở thành một trạng thái đặc biệt, như môi trường ở khu vực đô thị hay công trường xây dựng, khu công nghiệp, … Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển. Môi trường có các chức năng sau: 6 Luan van Là không gian sống: con người và các sinh vật khác chỉ có thể tồn tại và phát triển trong môi trường tự nhiên nhất định. Đó là không gian sống, sinh tồn duy nhất.
nghĩa là môi trường tự nhiên cung cấp các điều kiện sống cơ bản cho mọi loài, trong đó có con người. Là nơi cung cấp đầu vào (tài nguyên): là không gian sống, sinh tồn của con người nên môi trường đồng thời cũng là nơi (nguồn) cung cấp các yếu tố vật chất như là “đầu vào” cho các quá trình lao động, sản xuất ra của cải vật chất cho cuộc sống của con người và xã hội, như khoáng sản, gỗ, nước, … Là nơi chứa (tiếp nhận) chất thải: chất thải là vật chất còn lại không được sử dụng tiếp tục cho hoạt động lao động, sản xuất và sinh hoạt con người, được thải ra và môi trường là nơi duy nhất tiếp nhận mọi chất thải. Trong phạm vi không gian nhất định, môi trường chỉ có thể tiếp nhận có giới hạn một lượng chất thải nhất định, được gọi là năng lực tải hay mức chịu tải của môi trường. Giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật: hạn chế lũ lụt, điều hòa khí hậu, chắn bão cát… Là nơi lưu giữ thông tin sự sống (nguồn gen, đa dạng sinh học, .): đây là chức năng mới được các nhà khoa học môi trường bổ sung, xuất phát từ những thông tin sự sống được lưu giữ trong tự nhiên được khoa học khám phá và khai thác cho phát triển xã hội.
Trong xã hội hiện đại, thông tin là một tài nguyên thì cũng có thể coi môi trường tự nhiên cung cấp một loại tài nguyên đặc biệt - thông tin về sự sống. Môi trường là đối tượng cần được bảo vệ nhằm mục tiêu phát triển bền vững. Chính sách bảo vệ môi trường là một phần của chính sách công cần được ban hành và thực hiện có hiệu quả để đảm bảo bảo vệ môi trường vì phát triển con người và phát triển bền vững. - Hoạt động về bảo vệ môi trường Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành.
Nguyên tắc bảo vệ môi trường được quy định tại Điều 4 Luật Bảo vệ môi 7 Luan van trường năm 2014 bao gồm: Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành. Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu chất thải. Bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu; BVMT bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia.
Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
Bảo vệ môi trường thông qua việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường một cách đúng đắn, phù hợp và có hiệu quả. Khái niệm chính sách Chính sách là một hệ thống nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các quyết định và đạt được các kết quả hợp lý. Một chính sách là một tuyên bố về ý định, và được thực hiện như một thủ tục hoặc giao thức. Các chính sách thường được cơ quan quản trị thông qua trong một tổ chức.
Chính sách có thể hỗ trợ cả việc đưa ra quyết định chủ quan và khách quan. Các chính sách hỗ trợ trong việc ra quyết định chủ quan thường hỗ trợ quản lý cấp cao với các quyết định phải dựa trên thành tích tương đối của một số yếu tố và do đó thường khó kiểm tra khách quan, ví dụ: chính sách cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Các chính sách tương phản để hỗ trợ 8 Luan van việc ra quyết định khách quan thường hoạt động trong tự nhiên và có thể được kiểm tra khách quan, ví dụ: chính sách mật khẩu. Chính sách là một thành tố, công cụ của quản lý.
Chính sách công là thành tố của quản lý nhà nước, có thể được hiểu “là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”. Chính sách công cũng có thể được hiểu “là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”. [4,20] Từ quan niệm trên, chính sách công được hiểu theo nghĩa rộng: là kết quả của việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng cầm quyền thành các quyết định, tập hợp các quyết định chính trị với mục tiêu, giải pháp, công cụ nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế, xã hội và phục vụ người dân. Chính sách bảo vệ môi trường Chính sách bảo vệ môi trường (hay chính sách môi trường) là chính sách công.
Như vậy, có thể định nghĩa Chính sách bảo vệ môi trường là tập hợp các quyết định của Nhà nước nhằm đưa ra các mục tiêu, giải pháp, công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề về bảo vệ môi trường nhằm thực hiện các mục tiêu bảo vệ môi trường cho phát triển bền vững của đất nước. Chính sách môi trường cụ thể hoá Luật Bảo vệ Môi trường (trong nước) và các Công ước quốc tế về môi trường. Mỗi cấp quản lý hành chính đều có những chính sách môi trường riêng. Nó vừa cụ thể hoá luật pháp và những chính sách của các cấp cao hơn, vừa tính tới đặc thù địa phương.
Sự đúng đắn và thành công của chính sách cấp địa phương có vai trò quan trọng trong đảm bảo sự thành công của chính sách cấp trung ương. Theo Luật Bảo vệ môi trường, chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi 9 Luan van trường được quy định cụ thể như: Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường. Ðẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháp hành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỷ cương trong hoạt động bảo vệ môi trường. Sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải.
Ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc; tập trung xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái; chú trọng bảo vệ môi trường của khu dân cư. Ðầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư phát triển; đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường và bố trí khoản chi riêng cho sự nghiệp môi trường trong ngân sách nhà nước hằng năm.