Mở đầu. Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu. Chƣơng 2: Các phương pháp sửa chữa đường giao thông trong Khu công nghiệp. Chƣơng 3: Phương pháp phân tích giá vòng đời cho Đường giao thông trong khu vực TP.
Hồ Chí Minh. Kết luận và kiến nghị. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG GIẢI PHÁP BẢO TRÌ CHO KCN HIỆP PHƯỚC TP. HỒ CHÍ MINH.
Tình hình phát triển hạ tầng giao thông đƣờng bộ tại TP Hồ Chí Minh. Nói đến Thành Phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) là nói đến một thành phố trẻ và năng động, với dân số hơn tám triệu người (8.000 người/TK tháng 02-2019), hiện Tp HCM là thành phố có số dân đông nhất cả nước. Với vị trí trung tâm, đi đầu trong phát triển kinh tế, là cửa ngõ giao thương quốc tế, Thành Phố Hồ Chí Minh đã và đang là đầu tầu kinh tế của cả nước và của cả vùng kinh tế trọng điểm phía nam.
Do có vị trí hết sức quan trọng như vậy, mà TP.HCM những năm sau giải phóng, đã phải nỗ lực hết mình trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ việc phát triển của cả vùng phía nam nói chung, và của TP. Và ưu tiên hàng đầu của Thành Phố trong việc xây dựng & phát triển, chính là xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ – huyết mạch kinh tế. Để hiểu biết thêm về TP.HCM, chúng ta cần tìm hiểu hạ tầng giao thông tại đây, đặc biệt là giao thông đường bộ, để từ đó chúng ta sẽ có những cái nhìn khái quát về sự phát triển của thành phố trong hiện tại và tương lai. Bên cạnh đó, sự hiểu biết về hạ tầng giao thông sẽ giúp chúng ta khai thác tốt những lợi ích mà nó đem lại.HCM hiện có khoảng 4.155 Km chiều dài tuyến đường, trong đó, khoảng 40% tuyến đường có bề rộng trên 7m.
Bên cạnh đó, hơn 50% các tuyến đường không có vỉa hè, nhiều vị trí giao cắt đồng mức cũng ảnh hưởng đến hạ tầng giao thông. Với tốc độ phát triển các phương tiện dẫn đến nhiều tuyến đường hiện nay đã quá tải. Theo Quyết định 6204/QĐ-UBND ngày 28/11/2016, UBND thành phố đã cụ thể hóa chương trình hành động này với mục tiêu đến năm 2020 sẽ làm mới đưa vào sử dụng 272 km đường bộ, 76 cây cầu, mật độ đường giao thông đạt 2,2km/km2, tỷ lệ dành cho giao thông đạt 12,2% đất xây dựng đô thị… Như vậy, để đạt những chỉ tiêu nói trên, thành phố triển khai 172 dự án với nhu cầu vốn đầu tư trong giai đoạn 2016 – 2020 gần 324. Trong đó, nguồn ngân sách thành phố đầu tư 120 dự án với nhu cầu vốn hơn 46.500 tỷ đồng (14%) và nguồn vốn ODA đầu tư 6 dự án với nhu cầu vốn hơn 73.000 tỷ đồng (23%), nguồn vốn trung ương dành cho 6 dự án với tổng vốn hơn 78.
Riêng nguồn vốn theo hình thức đối tác công - tư (PPP) cho 40 dự án cần 4 đến hơn 126. Tuy nhiên, sau 2 năm đầu tư các công trình dự án nói trên, đến nay hạ tầng giao thông thành phố đạt được con số khá khiêm tốn, chỉ làm mới và đưa vào sử dụng 97,6km/272km đường bộ (đạt 35,88%); xây dựng mới 32/76 cây cầu (đạt 42,1%). Nguyên nhân chủ yếu của việc triển khai chậm các dự án hạ tầng giao thông nói trên là do thiếu nguồn lực đầu tư. Cụ thể, trong giai đoạn 2018-2020, thành phố cần 284.000 tỷ đồng, chiếm hơn 87% tổng nhu cầu vốn của chương trình như đã đề cập.
Điều này cho thấy, kể từ khi triển khai Chương trình hành động từ năm 2016 đã huy động nguồn vốn đầu tư cho các dự án hạ tầng giao thông rất thấp và đồng nghĩa với việc những năm tiếp theo trong kế hoạch trung hạn càng bị áp lực hơn việc huy động, sử dụng nguồn lực đầu nhằm đảm bảo hoàn thành mục tiêu. Điều này thành phố đã xác định rõ khi nhìn vào cơ cấu xác định phân bổ nguồn lực đầu tư cho 172 dự án có thể nhận thấy, nguồn lực huy động từ nguồn vốn theo hình thức PPP ( PPP (Public - Private Partner) là hợp tác công - tư mà theo đó nhà nước cho phép tư nhân cùng tham gia đầu tư vào các dịch vụ hoặc công trình công cộng của nhà nước) là lớn nhất và đây là giải pháp được kỳ vọng nhiều nhất để góp phần đẩy nhanh đầu tư hạ tầng giao thông, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh. Thế nhưng, mặc dù kỳ vọng rất lớn vào nguồn vốn xã hội hóa để đầu tư hạ tầng giao thông giải quyết bài toán ùn tắc giao thông, đến nay mới có 14 dự án đầu tư theo hình thức PPP đã ký kết hợp đồng dự án với tổng mức đầu tư là gần 50. Đến nay hạ tầng giao thông tại Thành phố Hồ Chí Minh chỉ mới đáp ứng được 30% so với quy hoạch, hạ tầng giao thông Metro chưa đưa vào hoạt động nên xe chủ yếu di chuyển bằng đường bộ.
Thực trạng phát triển hạ tầng đƣờng giao thông trong các Khu công nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh. Quy chuẩn thiết kế và quy hoạch hạ tầng giao thông trong Khu công nghiệp. Khi thiết kế quy hoạch khu công nghiệp thì việc tuân thủ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng QCXDVN 01:2008/BXD của Bộ Xây dựng ban hành kèm theo quyết định số 04/2008/QĐ-BXD ngày 03/04/2008 và các Quy chuẩn kỹ 5 thuật quốc gia hiện hành khác là bắt buộc.
Các quy định trong QCVN được hiểu như là mức giới hạn tối thiểu hoặc tối đa không được vi phạm, kể cả đối với các dự án liên doanh hay 100% vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đặt trên lãnh thổ Việt nam. Tuy nhiên khi triển khai thì chủ thể quyết định đầu tư hoàn toàn có thể đưa ra định mức chất lượng của dự án bằng việc lựa chọn áp dụng các Tiêu chuẩn hiện hành trong nước (như Tiêu chuẩn thiết kế và quy hoạch đô thị TCVN4449-1987 của Bộ Xây dựng) kết hợp với các tiêu chuẩn quốc tế phù hợp miễn là không trái với QCXDVN 01:2008/BXD. Hiện nay việc áp dụng các tiêu chuẩn nước ngoài cần có tờ trình của chủ đầu tư và văn bản chấp thuận của Bộ Xây dựng mới được thực hiện. Đối với khu vực đất giao thông: TCVN4449-1987 đã đưa ra những tiêu chuẩn cơ bản cho việc thiết kế giao thông trong khu công nghiệp.
Ví dụ như xác định loại đường giao thông trong khu công nghiệp thuộc cấp đường nội bộ với tốc độ tính toán là 60km/h, chiều rộng tính toán 3,75m/làn xe, số làn xe 2 chiều tối thiểu là 2 + 1 làn xe dự phòng, độ dốc lớn nhất 6%, bán kính cong nhỏ nhất là 125m, chiều rộng vỉa hè tối thiểu 1,5 – 3m, diện tích tối thiểu chỗ đỗ xe ô tô con 25m2, xe máy 3m2, xe đạp 0,9m2. Khi thiết kế giao thông, cần lưu ý tuân thủ Quy định phòng cháy – chữa cháy theo QCXDVN 01:2008/BXD mục 2.4 là: “đối với công trình Công nghiệp phải bố trí đường cho xe chữa cháy chạy bên ngoài dọc theo một phía nhà khi chiều rộng nhà nhỏ hơn 18m và chạy dọc theo 2 phía nhà khi nhà rộng từ 18m trở lên”. Từ đó có thể chia đường giao thông khu công nghiệp làm 3 loại: Đường chính KCN ít nhất 4 làn xe, rộng tối thiểu 15m, tốc độ 60km/h; Đường nhánh KCN ít nhất 2 làn xe, rộng tối thiểu 7,5m, tốc độ 40km/h; Đường nội bộ trong từng lô đất theo thiết kế hoàn thiện lô đất. Thực trạng hạ tầng giao thông trong Khu công nghiệp tại TP.
Hồ Chí Minh. Hiện nay tại TP. Hồ Chí Minh hiện nay có 18 Khu công nghiệp và 23 cụm công nghiệp rải đều khắp thành phố. Mặc dù nhiều KCN đã đi vào hoạt động đã lâu nhưng đến nay cơ sở hạ tầng giao thông chưa hoàn thiện: Chất lượng nhiều tuyến đường trong các KCN, CCN không đảm bảo theo quy chuẩn, chưa có đèn chiếu sáng, hệ thống biển báo giao thông, các điểm dừng đỗ, đón trả khách trong KCN cho xe buýt, xe đưa đón công nhân.
Điều 6 này gây khó khăn cho người và phương tiện tham gia giao thông trong KCN. Bên cạnh đó, một đặc điểm chung là hầu hết các KCN được quy hoạch gần hoặc tiếp giáp với các tuyến đường lớn để thuận tiện về lưu thông hàng hóa như: KCN Hiệp Phước tiếp giáp với đại lộ Nguyễn Văn Linh, KCN Tân Tạo tiếp giáp quốc lộ 1, KCN Vĩnh Lộc giáp quốc lộ 1.Việc mở cửa hướng ra mặt đường lớn vừa tạo thuận lợi và mang lại lợi ích về mặt kinh tế cho các doanh nghiệp nhưng tiềm ẩn nguy cơ gây va chạm và mất an toàn giao thông ngay tại cửa ngõ của các KCN. Mặt khác, hiện nay nhiều đường nội bộ của một số KCN đang bị biến thành đường lưu thông chính của các phương tiện giao thông từ các hướng và các luồng khác nhau. Ngoài lượng lớn phương tiện của cán bộ, công nhân và xe ô tô chở hàng hóa, nguyên vật liệu của các doanh nghiệp ra vào thường xuyên, một số tuyến đường trong KCN trở thành tuyến đường lưu thông chính, hay những lối đi tắt của người dân thôn xung quanh, của các xe vận chuyển hàng hóa, Container của các cảng ngoài KCN đi qua.
Đây là một trong những bất cập làm tăng nguy cơ gây ùn tắc, tai nạn giao thông và gây khó khăn cho công tác quản lý đường bộ tại KCN. Các mô hình quản lý hạ tầng giao thông trong Khu công nghiệp. Việc quản lý hạ tầng kỹ thuật giao thông trong Khu công nghiệp cần phải có cơ chế phối hợp cũng như các quy định cụ thể trong quản lý cần quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan trong công tác quản lý hạ tầng nói chung, quản lý hạ tầng đường giao thông nói riêng, tránh chồng chéo, đề xuất mô hình tổ chức bộ máy quản lý hạ tầng giao thông Cụ thể: Hạ tầng giao thông là nền tảng để phát triển KCN do đó các công trình đường giao thông phải chắc chắn để thu hút các nhà đầu tư, nhưng không được phô trương, dể sử dụng và dễ duy tu bảo dưỡng ít tốn chi phí vận hành. Công trình phải dễ duy tu bảo dưỡng đồng thời phải dễ thiết kế và xây dựng lại (hoặc sửa chữa) cho phù hợp với cá phương án tiết kiệm chi phí và cải tiến công nghệ trong tương lai.
Chọn phương án công nghệ xây dựng cơ sở hạ tầng theo từng đơn nguyên hoặc dạng phân tán (không tập trung) nếu khả thi về mặt công nghệ và kinh tế. Xây dựng cơ sở hạ tầng để duy trì điều kiện tự nhiên của khu vực (bao gồm cả cây xanh, tạo độ dốc, duy trì địa chất.