CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu trên thế giới 1. Những nghiên cứu về ngành Thông (Pinophyta) Ngành Thông (Pinophyta) còn gọi là ngành Hạt trần (Gymnospermae), gồm các loài cây thân gỗ lớn hoặc nhỡ, ít khi là cây bụi hoặc dây leo thân gỗ.
Lá hình vảy, hình kim, hình dải, ít khi hình quạt, hình trái xoan hoặc hình lông chim. Ngành Thông là ngành có mức độ phát triển cao, biểu hiện trong việc phức tạp hoá cơ quan dinh dưỡng và cơ quan sinh sản để thích ứng với lối sống trên đất. Cơ quan sinh sản thường đơn tính, có cấu tạo nón khác với cấu tạo hoa, gồm các lá bào tử xếp xoắn ốc hoặc xếp vòng trên một trục ngắn có dạng nón. Thụ phấn nhờ gió, ít khi nhờ côn trùng.
Lá noãn mở không bao hạt, mang một đến nhiều lá noãn ở nách hoặc mép. Hạt có phôi thẳng, mang một đến nhiều lá mầm. Gỗ tương đối mềm, chỉ có quản bào chưa có mạch gỗ và sợi gỗ. Theo nhiều quan điểm phân loại khác nhau, ngành Thông có khoảng 6-8 họ với khoảng 65-70 chi và 600-650 loài (Lott J.
Trong ngành Thông trước đây người ta phân thành 7 bộ, nhưng qua kiểm tra gen, các bộ Taxales, Araucariales (Nizam Khan U. et al, 1971) và Cupressales được xếp vào bộ Thông. Bộ Thông cùng với 3 bộ khác là Cordaitales, Vojnovskyales và Voltziales tạo thành ngành Thông. Thông là một nhóm thực vật tự nhiên với khoảng 630 loài và có giá trị kinh tế và sinh thái đặc biệt cao.
Những cây này gặp trên tất cả các châu lục trừ châu Nam cực (nơi cũng tìm thấy các hóa thạch Thông) và trong gần như tất cả các quần xã rừng. Nhiều quần xã trong đó có Thông chiếm ưu thế. Mặc dù có nhiều loài Thông phân bố rộng với hàng triệu, thậm chí hàng tỷ cá thể nhưng ít nhất cũng có 25% tổng số các loài Thông bị đe dọa tuyệt chủng. Theo thời gian các loài mới và cả các chi mới vẫn còn đang được tiếp tục phát hiện ở những vùng sâu vùng xa, bổ sung thêm vào danh sách các loài Thông quí hiếm và bị Luan van 5 đe dọa.
Thông đóng một vai trò quan trọng trong lâm nghiệp. Phần lớn gỗ xẻ trong nền kinh tế thế giới là từ các loài Thông (Nguyễn Tiến Hiệp và cs, 2005). Những nghiên cứu về họ Thông (Pinaceae) Họ Thông (Pinaceae) đa số là dạng cây gỗ hay cây bụi phân cành, thường xanh hiếm khi rụng lá. Lá hình dải hẹp hay hình kim; nón đực gồm nhiều vảy bao phấn xếp xoắn nhiều vòng tập hợp thành bông hình cầu hay hình trụ, đơn độc hay chụm; mỗi vảy mang (1) 2 - 9 bao phấn, nón cái mang nhiều vảy noãn xếp xít với nhau, vảy noãn mang 1-15 noãn ở mặt trong của vảy, lá bắc của vảy noãn không dính với vảy, nhìn rõ hay không rõ ở nón già; vảy noãn có phần rốn ở giữa nhìn rõ ở mặt ngoài (trừ các chi Abies, Tsuga, Keteleeria), luôn có hai hạt có cánh ở gốc, lá mầm thường nhiều hơn hai.
Đa số các loài có bộ rễ rất phát triển, trên rễ các loài Thông cấu tạo nên thảm rừng có loài nấm cộng sinh. Một số loài có kích thước lớn, cao tới 40-50m và đường kính 0,5-1,2m.) (2000), các loài trong họ Thông sinh sống tự nhiên ở hầu khắp Bắc bán cầu. Ở lục địa Á-Âu, chúng phân bố từ quần đảo Canaria, bán đảo Iberia và Scotland đến vùng viễn đông Nga, ở Philippines, Na Uy, Phần Lan và Thụy Điển (thông Scot), và ở Đông Siberi (thông lùn Siberi),. Phần lớn cây thuộc họ Thông gặp ở các vùng núi cao thuộc các vĩ độ vùng ôn đới và cận nhiệt đới, thường là những nơi có lượng mưa lớn.
Tuy nhiên, một số loài còn thấy gặp ở cả những nơi khí hậu khô hoặc ở những vùng rất lạnh gần Bắc Cực. Trên Bắc bán cầu, các diện tích lớn của châu Âu, châu Á và Bắc Mỹ các loài chiếm ưu thế chỉ có một số ít, ví dụ như loài Thông (Pinus sylvestris) gặp từ vùng ven biển phía Tây Scotland gần như cho tới phần phía Đông của Trung Quốc và Liên Xô cũ. Tính đa dạng của Thông lớn hơn ở Bắc Luan van 6 bán cầu tại các vùng như Mêhicô, Tây Nam Hoa Kỳ, Trung Quốc và Đông Dương (Nguyễn Đức Tố Lưu và cs, 2004). Theo Farjon, 2001, trên thế giới có 630 loài Thông thuộc 69 chi.
Kế hoạch hành động Thông quốc tế của IUCN (Farjon & Page, 1999) đã xác định các điểm nóng Thông là các vùng có tính đa dạng sinh học cao với số lượng các loài bị đe dọa tuyệt chủng cao, trên 2% so với tổng số loài bị đe dọa tuyệt chủng ở mức quốc tế. Danh mục đỏ các loài bị đe dọa tuyệt chủng của IUCN (2003), liệt kê 291 loài thông (gần một nửa số loài Thông trên thế giới) được đánh giá bị đe dọa tuyệt chủng ở mức quốc tế. Nghiên cứu chi Thiết sam giả (Pseudotsuga) và loài Thiết sam giả lá ngắn 1. Về chi Thiết sam giả Về phân loại của chi Thiết sam (Pseudotsuga) trong Thực vật chí Trung Quốc – Fu L.
et al (1999) cho rằng, trên thế giới có 6 loài phân bố ở Trung Quốc, Nhật Bản, Bắc Mỹ; 5 loài tại Trung Quốc là: Pseudotsuga forrestii Craib; Pseudotsuga sinensis Dode; Pseudotsuga brevifolia W.; Pseudotsuga macrocarpa (Vasey) Mayr, Wald.; Pseudotsuga menziesii (Mirbel) Franco. Theo hệ thống phân loại hiện nay, chi Thiết sam giả (Pseudotsuga Carrière, 1867) thuộc: Lớp: Equisetopsida C. Agardh Dưới lớp Thông: Pinidae Cronquist, Takht. Bộ Thông: Pinales Grozh.
Họ Thông: Pinaceae Spreng. Cho đến nay, các nhà khoa học đã thống kê được 75 loài thuộc chi Thiết sam giả. Đa số các loài đã được thống kê có phân bố ở vùng châu Á: Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam,… 1. Về loài Thiết sam giả lá ngắn Cho đến nay, những nghiên cứu về loài Thiết sam giả lá ngắn còn rất hạn chế, hiện mới có một số nghiên cứu sau: Luan van 7 - Về phân loại: Nhiều đánh giá gần đây của Việt Nam (Nguyễn Tiến Hiệp và cs, 2005) đã kết luận rằng những loài phổ biến trên các ngọn núi đá vôi là Pseudotsuga sinensis var.
Sự phân bố của Pseudotsuga sinensis var. brevifolia trong bản đồ thực vật Hạt trần của Trung Quốc (Ying và cs, 2004) gần với vùng phân bố của P. sinensis tại Việt Nam đưa ra trên một bản đồ trong tài liệu của Nguyễn Tiến Hiệp và cs (2005). Không chắc chắn rằng var.
brevifolia phân bố giới hạn ở Trung Quốc. Trong hệ thực vật của Trung Quốc (Wu & Raven, 1999), var. brevifolia được coi là một loài riêng biệt (Farjon A. et al, 2013), (Ying T.
- Về tình trạng phân bố: Trên thế giới, Thiết sam núi đá phân bố ở vùng núi thuộc Trung và Nam Trung Quốc, còn Thiết sam giả gặp ở các vùng núi đá vôi của hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố ở Trung Quốc (tỉnh Quảng Tây, Quý Châu) và Việt Nam. Diện tích vùng phân bố của loài được ước tính là dưới 2000 km². Số lượng ở Trung Quốc là rất nhỏ chỉ là một vài cá thể trưởng thành ở từng địa phương.
Tổng cá thể ước tính khoảng 200. Số lượng các cá thể trưởng thành được ước tính là ít hơn 10.000 và suy giảm liên tục, tất cả các tiểu quần thể xuất hiện chứa ít hơn 1.000 cá thể trưởng thành. Phần lớn loài này sống rải rác trên các sườn núi, đỉnh núi đá vôi ở độ cao 1000-1300m so với mực nước biển. Xuất hiện trong các vùng cây bụi ít hơn là ở trong rừng.
Pseudotsuga sinensis var. brevifolia tìm thấy ở Trung Quốc và Việt Nam có thể loài này đang bị đe dọa do khai thác gỗ và môi trường sống mất mát do kết quả của phá rừng. Loài này được xếp ở mức Vulnerable B2ab(iii,v); C2a(i) (Farjon A. Các quần thể Thiết sam giả lá ngắn ở Trung Quốc được đánh giá là sẽ nguy cấp (VU B1+2c) do có phân bố hạn chế và thay đổi môi trường sống.
Luan van 8 Trong Danh lục đỏ IUCN (2018), loài Pseudotsuga sinensis Dode var. brevifolia (WC Cheng & LK Fu) Farjon & Silba được đánh giá ở mức Vulnerable A2cd. Trong Thực vật chí Trung Quốc, Wu and Raven (1999), đã cho rằng loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W. Fu) hoặc Pseudotsuga sinensis Dode var.
Fu) Farjon & Silba, còn được gọi là Linh sam lá ngắn. Loài này phân bố ở Quý Châu, Quảng Tây, thường mọc rải rác trên sườn núi, đỉnh núi đá vôi ở độ cao 1.300m so với mực nước biển, loài sẽ bị nguy cấp. Với đặc điểm là có vỏ màu nâu, có vảy, nứt theo chiều dọc thân cây, lá xếp xoắn, nón hình trứng, gỗ cứng. Vị trí của loài trong hệ thống phân loại được thể hiện như sau: Giới: Plantae Ngành: Pinophyta Lớp: Pinopsida Bộ: Pinales Họ: Pinaceae Chi: Pseudotsuga Loài: Pseudotsuga brevifolia Tên đồng nghĩa là: Pseudotsuga sinensis var.
Fu) Farjon & Silba Như vậy, trên thế giới đã có những nghiên cứu về ngành Thông, họ Thông và một số loài riêng biệt về đặc điểm sinh học của loài như: vị trí phân loại, đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh thái của Thông trên thế giới. Thiết sam giả lá ngắn trên thế giới mới chỉ thấy phân bố ở Trung Quốc và Việt Nam. Đây là loài đã được một số tài liệu ở Trung Quốc mô tả về đặc điểm hình thái, phân bố và tình trạng của loài cũng như định loại, còn các nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái còn hạn chế. Đối với các loài thực vật nói chung và các loài Thông nói riêng thì mối đe dọa lớn nhất đối với sự tồn tại của chúng Luan van 9 chính là những tác động của con người thông qua các hoạt động khai thác không bền vững, vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu để tìm ra được giải pháp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tổn hại do con người gây ra.
Những kết quả nghiên cứu ở Việt Nam 1. Những nghiên cứu về ngành Thông (Pinophyta) Theo Lê Trần Chấn và cs (1999), về một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam, phần 2 có đề cập đến danh lục các loài thực vật Việt Nam. Trong đó ngành Thông (Pinophyta) có 8 họ gồm: Cephalotaxaceae, Cupressaceae, Cycadaceae, Gnetaceae, Pinaceae, Podocarpaceae, Taxaceae và Taxodiaceae. Theo Trần Hợp (2002), ngành Thông (Pinophyta) gồm có các bộ sau: Bộ Phỉ (Cephalotaxales), bộ Kim giao (Podocarpales), bộ Thông đỏ (Taxales), bộ Bách tán (Araucariales), bộ Thông (Pinales), bộ Hoàng đàn (Cupressales).