CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Ngày nay vấn đề nghiên cứu và bảo tồn ĐDSH được cả thế giới quan tâm, nhất là sau khi Công ước ĐDSH đã được phê duyệt tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới ở Rio de Janeiro năm 1992. Thuật ngữ ĐDSH được dùng lần đầu tiên vào năm 1988 (Wilson, 1988) và sau khi Công ước ĐDSH được ký kết (1993), đã được dùng phổ biến trên các diễn đàn Quốc tế.1 Các nghiên cứu ngoài nước Trên thế giới, các khu bảo tồn biển đã xuất hiện từ lâu. Năm 1913, Khu bảo tồn biển đầu tiên được thành lập tại Công viên quốc gia Cabrillo, California và đến cuối năm 2013, Hoa Kỳ đã có hơn 1.700 khu bảo tồn biển [23].
Theo World Wide Fund For Nature (WWF), tính đến 2015 đã có 4% diện tích biển được bảo tồn [30]. Trong hệ thống các khu BTB trên thế giới có rất nhiều khu BTB thuộc vùng lõi của khu DTSQTG với những đặc thù sinh thái khá tương đồng với khu BTB Cù Lao Chàm, trong đó một số khu BTB đã nghiên cứu và áp dụng tương đối thành công các mô hình bảo tồn ĐDSH gắn với phát triển kinh tế xã hội với mục tiêu phát triển bền vững Điển hình là Vườn Quốc gia Halla (thuộc vùng lõi của khu DSTQ đảo Jeju – Hàn Quốc, nằm ở phần phía nam của bán đảo Triều Tiên với một ngọn núi lửa có độ cao 1.950 mét so với mực nước biển) có hai dòng sông bao bọc xung quanh và ba hòn đảo nhỏ. Sự đa dạng của các hệ sinh thái được trong khu vực bao gồm các khu rừng lá kim, rừng lá rụng ôn đới, rừng thường xanh ôn đới và đồng cỏ ôn đới. Ba hòn đảo nhỏ không người ở có tầm quan trọng trong bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học rừng và hệ thống các rạn san hô.
Với sự đa dạng sinh học cao, địa hình núi lửa độc đáo và nền văn hóa đặc sắc của đảo Jeju đã thu hút nhiều khách du lịch. Phát triển du lịch bền vững kết hợp bảo tồn các giá trị TNTN đã được chính phủ Hàn Quốc và chính quyền đảo Jeju hết sức quan tâm. Mô hình được chính quyền nơi đây nghiên cứu và áp dụng là phát triển du lịch sinh thái và kinh tế sinh thái gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, cụ thể: 4 z - Khu vực vùng lõi: là nơi được phép diễn ra các hoat động tham quan và đi bộ vào Vườn quốc gia Halla, bên cạnh đó là những hoạt động liên quan đến giám sát và nghiên cứu, và 1 số khu vực cho phép là nơi trồng nấm hương (Lentinus edodes) cho người dân địa. Trong khu vực ba hòn đảo không có người ở được cho phép diễn ra các hoạt động câu cá và vùng thung lũng dọc hai con sông thường được diễn ra các hoạt động tham quan cắm trại mùa hè.
- Vùng đệm: trồng nấm hương, trồng rừng và bảo vệ rừng, câu cá, ngắm cảnh, các hoạt động giám sát và nghiên cứu, các hoạt động du lịch tàu được cho phép trên vùng biển quanh ba đảo nhỏ, nơi đây được thiết kế thành công viên biển dành cho du lịch. - Vùng chuyển tiếp: Các loại đất trong vùng chuyển tiếp chủ yếu là những đồng cỏ, rừng, đất canh tác nông nghiệp, các trang trại chăn nuôi, vườn cây ăn trái và các nhà kính, các cơ sở du lịch liên quan như sân golf và các khóa học cưỡi ngựa, và khu vực chủ yếu tập trung dân cư sinh sống. Những hoạt động bảo tồn kết hợp phát triển kinh tế sinh thái, kinh tế bền vững nơi đây đã gặt hái được nhiều thành công đáng kể, đưa đảo Jeju trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn, tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho người dân và nguồn thu ngân sách cho chính quyền địa phương đồng thời vẫn gìn giữ được các giá trị to lớn mà thiên nhiên ban tặng cho vùng đất này. Công viên Quốc gia Yakushima (thuộc vùng lõi của khu DTSQ đảo Yakushima – Nhật Bản nằm ở tỉnh Kagoshima, Kyushu ở phía nam của Nhật Bản).
Khu vực có các HST rừng nguyên sinh nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới, rừng lá kim thường xanh với cây tuyết tùng Nhật Bản đặc thù (Cryptomeria japonica) - một số trong số đó có tuổi đời lên đến hơn 1.000 năm, đồng cỏ, HST ven biển với giá trị ĐDSH cao với nhiều loài sinh vật đặc trưng quý hiếm. Dân số trên đảo vào khoảng 14.000 người sinh sống bằng du lịch, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và các ngành công nghiệp khác. Cộng đồng dân cư trên đảo có một nền văn hóa truyền thống độc đáo có mối quan hệ gần gũi với thiên nhiên, đặc biệt chặt chẽ với loài hươu (Cervus nippon) – loài động vật đặc trưng và chiếm số lượng rất lớn trên đảo, rùa biển (Caretta) và cá thu (Scomberomorus niphonius). Cùng với nhiều lợi thế về nguồn TNTN và TNNV phong phú, đa dạng và độc đáo, Yakushima cũng từng phải đối mặt với rất nhiều thách thức trong công tác bảo tồn ĐDSH trong bối cảnh phát triển kinh tế.
Khi đảo Yakushima được công nhận là khu DTSQ và được thế giới 5 z biết đến nhiều hơn thì lượng khách du lịch đến tham quan đảo cũng tăng dần hàng năm, lúc này lại gây ra nhiều áp lực lên các nguồn TNTN khi du khách hầu như chỉ tập trung vào những nơi cụ thể gây quá tải và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên những nơi này (như Jomon Sugi). Bên cạnh đó việc bảo vệ nghiêm ngặt loài hươu (không có kẻ thù tự nhiên trên đảo) cũng gây nên sự gia tăng số lượng đàn hươu quá mức, ảnh hưởng đến mùa màng của người dân và gây hư hại nặng nề thảm thực vật tự nhiên. Do vậy chính quyền Yakushima đã nghiên cứu và áp dụng các kế hoạch tích hợp giữa khoa học kỹ thuật, quản lý và quy hoạch để tăng cường phát triển nền kinh tế địa phương dựa vào việc sử dụng bền vững nguồn TNTN, bảo tồn ĐDSH bằng cách tăng cường du lịch sinh thái kết hợp với du lịch văn hóa. Khái niệm “Làng văn hóa môi trường Yakushima” được đề ra với việc nhấn mạnh mối quan hệ lịch sử giữa thiên nhiên hùng vĩ nơi đây với nền văn hóa truyền thống đặc trưng.
Khái niệm này chia đảo Yakushima thành 3 khu vực dựa trên quan điểm của người dân về thiên nhiên từng khu vực và mỗi khu vực có chính sách bảo tồn và sử dụng bền vững riêng: - Khu vực bảo vệ: là vùng lõi của đảo Yakushima, nơi đây ngoài là khu di sản thế giới thì còn là không gian cho tín ngưỡng của người dân. Khu vực này là nơi tôn trọng các mối quan hệ lịch sử giữa con người và thiên nhiên, cấm các tác động của con người và kiểm soát lượng du khách chặt chẽ. - Khu vực sử dụng bền vững: tiếp giáp và bao bọc xung quanh vùng lõi, là nơi có các HST được bảo tồn, các hoạt động của còn người có giới hạn, được đầu tư để phát triển du lịch sinh thái thân thiện với thiên nhiên, là nơi phát triển ngành lâm nghiệp bền vững với các loài cây bản địa. - Khu dân sinh và văn hóa: bao bọc phía ngoài cùng của đảo, là nơi thúc đẩy một nền văn hóa phong phú và người dân sống hài hòa với thiên nhiên, nơi xây dựng các cơ sở du lịch theo hướng phân tán sự tập trung của khách du lịch ra xung quanh đảo.2 Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu khai thác, sử dụng TNTN và Bảo tồn đa dạng sinh học đã được quan tâm khá sớm, đặc biệt sau khi Đất nước hoàn toàn thống nhất (năm 1975), khi tiếp thu kinh nghiệm từ các nước trên thế giới, Việt Nam đã có được những thành quả đáng kể các về mặt lý luận khoa học và xây dựng các kế hoạch, chiến lược bảo tồn ĐDSH.
Đối với khu vực biển và ven bờ, hải đảo 6 z đã có những nghiên cứu cơ bản như điều tra tổng hợp, điều tra cơ bản tài nguyên như: Chương trình KH&CN phục vụ quản lý biển, hải đảo và phát triển kinh tế biển (KC.09/11-15); Chương trình KH&CN phục vụ bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai (KC.08); các đề tài/nhiệm vụ KH&CN độc lập cấp Nhà nước; Chương trình điều tra tổng hợp hệ thống đảo ven bờ phục vụ phát triển KT-XH và di dân ra đảo; các công trình cấp nhà nước về đánh giá điều kiện tài nguyên sinh vật và HST, nguồn lợi thủy sản; các công trình về động lực bờ và quá trình bồi tụ xói lở; công trình đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, KT-XH hệ thống đảo ven bờ Việt Nam trong chiến lước phát triển kinh tế biển; Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; hay Chương trình 47: Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 (Quyết định số 47/2006/QĐ-TTg ngày 01/03/2006), trong đó có dự án thành phần "Điều tra tổng thể ĐDSH và nguồn lợi thủy hải sản vùng biển Việt Nam; Quy hoạch và xây dựng hệ thống các khu bảo tồn biển phục vụ phát triển bền vững" giao cho Bộ NN&PTNT thực hiện [8]. Hợp phần "Sinh kế bền vững bên trong và xung quanh các khu bảo tồn biển" thuộc Chương trình hợp tác phát triển Việt Nam - Đan Mạch trong lĩnh vực môi trường do Bộ NN&PTNT chủ trì thực hiện từ năm 2005 - 2011 và thí điểm cho 3 khu bảo tồn biển: Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Hòn Mun (Khánh Hòa), Phú Quốc (Kiên Giang). Mục tiêu phát triển của hợp phần nhằm khôi phục và bảo vệ các sinh cảnh quan trọng và ĐDSH ở vùng biển và ven biển mà không làm ảnh hưởng đến nhu cầu sinh kế của người nghèo và các cộng đồng dễ bị tổn thương ở xung quanh. Nguyễn Thùy Dương (2009) [12] đã nghiên cứu “Sự biến động cảnh quan và ĐDSH đất ngập nước ven biển tỉnh Thái Bình” phục vụ định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững.
Đề tài đặt mục tiêu (i) nghiên cứu cấu trúc và xu hướng biến động của các loại cảnh quan; (ii) nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học và biến động các hệ sinh thái; (iii) định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững.