1 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT ----------------------------------- ĐỖ THỊ ROAN GIẢI MÃ VÀ PHÂN TÍCH HỆ GEN VIRUS VIÊM GAN VỊT CƢỜNG ĐỘC CHỦNG NT PHÂN LẬP TẠI VIỆT NAM NĂM 2013 LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC Hà Nội – 12/2014 Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT ----------------------------------------- ĐỖ THỊ ROAN GIẢI MÃ VÀ PHÂN TÍCH HỆ GEN VIRUS VIÊM GAN VỊT CƢỜNG ĐỘC CHỦNG NT PHÂN LẬP TẠI VIỆT NAM NĂM 2013 Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm Mã số : 60420114 LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC Ngƣời hƣớng dẫn: TS. ĐOÀN THỊ THANH HƢƠNG Viện Công nghệ sinh học Hà Nội – 12/2014 Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 MỞ ĐẦU Bệnh viêm gan vịt do virus (Duck Hepatitis Virus) được coi là một bệnh cổ điển của ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Bê ̣nh xảy ra ở vịt con từ 1 đến 6 tuần tuổi, và đặc biệt mẫn cảm với vịt con dưới 1 tuần tuổi, tố c đô ̣ lây lan nhanh với tỷ lệ chết rất cao, có khi lên đến 95 – 100% toàn đàn. Bệnh gây thiệt hại rất lớn về kinh tế, là mối lo ngại cho các nhà chăn nuôi.
Trên thế giới, mặc dù được phát hiện từ trước những năm 1950 nhưng chỉ trong vòng 10 năm gầ n đây virus viêm gan vịt được nghiên cứu sâu sắc ở mức độ sinh học phân tử gen và hệ gen, đặc biệt về ứng dụng sinh học phân tử trong giám định, nghiên cứu hệ gen, phân loại và tìm hiểu quan hệ sinh học trong họ Picornaviridae. Theo quan điểm phân loại hiện nay, virus viêm gan vịt gồm ba genotype khác nhau: genotype I (DHAV-1), genotype II (DHAV-2) và genotype III (DHAV-3). Tại Việt Nam, từ trước đến nay mới chỉ công bố sự phổ biến của virus viêm gan vịt thuộc genotype I, bao gồm cả các chủng cường độc và vaccine. Tuy nhiên trong những điều tra mới đây, virus viêm gan vịt thuộc genotype III đã phát hiện ở một số địa phương của Việt Nam.
Để làm sáng rõ về đặc điểm phân tử của virus thuộc genotype 3 mới phát hiện này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải mã và phân tích hệ gen virus viêm gan vịt cường độc chủng Ninh Thuận (NT) phân lập tại Việt Nam năm 2013”. Đề tài được thực hiện với những mục tiêu và nội dung sau: 1. Mục tiêu: - Thu nhận được trình tự nucleotide của toàn bộ hệ gen của một chủng virus viêm gan vịt cường độc mới phân lập tại Việt Nam năm 2013. - Phân tích được trật tự sắp xếp của từng vùng gen và đặc điểm phân tử của các phân đoạn gen trong hệ gen.
Nội dung: Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - Phân lập và thu thập một chủng virus cường độc viêm gan vịt mới phân lập tại tỉnh Ninh Thuận (Việt Nam) năm 2013 (Kí hiệu chủng: NT). - Giải mã toàn bộ hệ gen của virus viêm gan vịt chủng NT (có kích thước khoảng 7. - Phân tích trật tự sắp xếp của các gen theo từng vùng gen. - So sánh trình tự nucleotide của chủng NT với các chủng virus viêm gan vịt khác của Việt Nam và thế giới.
- Xây dựng cây phả hệ và vị trí phân loại. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA VIRUS VIÊM GAN VỊT 1. Cấ u ta ̣o chung Virus viêm gan vịt (duck hepatitis virus) thuộc họ Picornaviridae, có kích thước nhỏ, khoảng 20-30 nm, không có vỏ bọc ngoài cùng.
Hệ gen của virus viêm gan vịt chứa acid ribonucleic (RNA) sợi đơn dương có độ dài khoảng 7600 đến 7700 nucleotide và đuôi poly A ở đầu 3’, chứa duy nhất một khung đọc mở (open reading frame) mã hoá cho một protein chung (polyprotein). Protein này, sau khi tổng hợp phải trải qua nhiều lần phân cắt để tạo nên các sản phẩm protein độc lập. Hệ gen RNA của virus rất đặc biệt, có chứa một protein ở đầu 5’ có tác dụng như một primer của quá trình sao chép RNA nhờ RNA polymerase (www.com/EBchecked/topic/459528/Picornavirus). Các virus thuộc họ Picornaviridae rất đa dạng (có tới trên 200 genotype) và là loại virus được biết đến từ sớm nhất.
Bệnh do chúng gây ra rất đa dạng, có thể là bệnh cấp tính hay nhiễm trùng mãn tính, bao gồm cả nhiều bệnh nguy hiểm trên người và động vật. Picornavirus rất nhỏ bé, có thể xuyên qua được màng lọc thông thường (Levine, Fabricant, 1950). Qua kính hiển vi điện tử, virus là những hạt tròn, bề mặt xù xì, không có vỏ bọc ngoài cùng (hình 1. Hepatitis A virus - Picornavirus capsid Viral polypeptides 27 nm VPG ss RNA Hình 1.
Mô hình cấu trúc của một chủng virus thuộc họ Picornavirus (Hepatitis A virus ).com) Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm cấu trúc hệ gen của virus viêm gan vịt Trong họ Picornaviridae, tất cả virus đều bị thiếu cấu trúc mũ ở đầu 5’ mà thay vào đó là một protein (khoảng 23 amino acid) gọi là VPg (v irion protein genome-link). VPg này liên kết đồng hoá trị với đầu 5’ thông qua một gốc tyrosine (Cheney et al. Ở cả hai đầu của hệ gen Picornavirus đều có vùng không dịch mã (UTR).
Vùng 5’UTR dài hơn, có độ dài khoảng từ 600 đến 1200 bp, trong khi vùng 3’UTR thường có độ dài chỉ từ 50 đến 100 bp. Vùng 5’UTR có vai trò quan trọng đối với quá trình sao mã và vùng 3’UTR có vai trò trong quá trình tổng hợp sợi âm. Tuy nhiên đầu 5’ cũng có thể có vai trò trong việc làm tăng cường độc lực của virus. Trong hệ gen của Picornavirus có một vùng nucleotide làm điểm khởi đầu để ribosome dịch mã, gọi là IRES – Internal Ribosome Entry Site, đó là một cấu trúc di truyền hoạt động phức tạp dạng cis với cấu trúc bổ sung thứ cấp khởi động cho quá trình dịch mã không phụ thuộc điểm mũ của hệ gen virus (Chard et al.
Nằm giữa hai vùng 5’ và 3’ là một khung đọc mở (open frame reading) lớn, mã hóa khoảng từ 2100 đến 2400 amino acid cho cả các protein cấu trúc và không cấu trúc. Đầu cuối 3’ của hệ gen virus có gắn thêm đuôi poly A, dài khoảng từ 16 đến18 nucleotide. Trong chuỗi polypeptide, phần protein đầu tiên là protein dẫn, ký hiệu là L (Leader protein), tiếp theo là 4 loại protein cấu trúc bao gồm VP4 (1A), VP2 (1B), VP3 (1C) và VP1 (1D), đoạn cuối cùng gồm 7 protein không cấu trúc là protein 2A, 2B, 2C, 3A, 3B, 3C và 3D. Tuy nhiên, ở các chi virus khác nhau thì trật tự này có sự thay đổi nhỏ.
Chuỗi polypeptide chung của Picornavirus thường bị phân giải bởi một, hai hoặc cả ba enzyme protease là 3Cpro, 2Apro và Lpro thành 10, 11 hoặc 12 chuỗi (Krumbholz et al. Toàn bộ chuỗi các protein liên tục này gồm 2249 amino acid, đươ ̣c mã hóa bởi 6747 nucleotide (Ding, Zhang, 2007). Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cấu trúc không gian của Picornavirus.
Các protein VP1, VP2 và VP3 nằm trên bề mặt vỏ kháng nguyên; protein VP4 lặn sâu vào bên trong (Nguồn: Swiss Institute of Bioinformatics, 2008). Vai trò, chƣ́c năng của các gen và các protein của virus viêm gan vịt Trong hệ gen virus, VPg – tuy là một protein nhỏ, chỉ khoảng 23 amino acid, nhưng có vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình sao mã. VPg là mồi cho quá trình tổng hợp sợi âm, trong khi VPgpUpUOH (một dạng chuyển hoá của VPg) là mồi cho quá trình tổng hợp sợi dương. Cấu trúc hệ gen của một loại virus họ Picornavirus (Kok, McMinn, 2009).
Hệ gen chia làm ba phần chính : P1, P2, P3 mã hóa cho chuỗi polyprotein chung, sau đó tự phân cắt thành các protein thành phần. Các protein VP1, VP2, VP3 và VP4 trong tổ hợp protein P1 có vai trò trong quá trình tạo vỏ capsid của virus. Ba loại protein đầu tiên nằm ở mặt ngoài của virus, protein VP4 ngắn hơn, nằm hoàn toàn ở bên trong vỏ capsid (Hình 1. Trong 4 loại protein này, VP1 có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định tính kháng nguyên và độc Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 lực của virus.
Bảy loại protein còn lại 2A, 2B, 2C, 3A, 3B, 3C, 3D là các protein không cấu trúc, tham gia vào các quá trình nhân lên của virus. Trong đó, Lpro chỉ xuất hiện trong các tế bào nhiễm Aphtovirus và Cardiovirus. Các enzyme này không chỉ phân cắt các chuỗi peptide của virus mà còn ức chế hoạt động tế bào của nhiều loại tế bào vật chủ khác nhau và gây ảnh hưởng đến chức năng nội bào. 3Cpro của Picornavirus có thể xâm nhập vào nhân thông qua tiền tố có mang trình tự định vị nhân (NLS) của chúng là 3CD’ hay 3CD (Amineva et al., 2004; Sharma et al.
3Cpro đồng thời có thể phân cắt phần lớn các yếu tố hoặc các nhân tố điều hoà liên quan đến RNA polymerase I, II, III của tế bào. Ngoài ra, 3Cpro còn liên quan đến quá trình ức chế phiên mã của tế bào vật chủ. 2Apro có khả năng phân cắt protein gắ n có cấ u trúc hô ̣p TATA in-vitro nhưng lại không có khả năng ức chế quá trình phiên mã của tế bào vật chủ (Yalamachili et al. Các protein khác của Picornavirus bao gồm 2B, 2BC, 3A và 3D liên quan đến quá trình sao chép RNA.
Cụ thể : Protein 2B/2BC Các protein 2B hay protein 2BC được giả thiết là có khả năng biến đổi màng của các tế bào bị nhiễm. Protein 2B và tiền thân của chúng là 2BC có vai trò quan trọng trong quá trình nhân lên và gắn dính vào màng của hệ thống Golgi và phức hợp mạng lưới nội chât (endoplasmic reticulum-ER) của tế bào vật chủ, từ đó hình thành nên các cấu trúc túi hạt trên màng tế bào vật chủ bị viêm nhiễm và hình thành phức hợp viroporin (Jong et al. Sự tích luỹ các protein 2B và 2BC trong mạng lưới Golgi dẫn đến thay đổi tính thấm của màng sinh chất (Jong et al., 2008) và làm cho cấu trúc thể Golgi trở nên lỏng lẻo, từ đó có thể gây chết tế bào (Kuppeveld et al.