đặt vấn đề nghiên cứu hệ thống từ láy trong HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương dưới góc độ ngôn ngữ. Nhưng để có cơ sở cho việc thống kê, phân loại từ láy cũng như tìm hiểu giá trị văn chương từ láy trong HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương, chúng tôi đưa ra một số định nghĩa, quan niệm về từ láy của các nhà ngôn ngữ học. Như chúng ta đã biết, láy là một phương thức cấu tạo từ quan trọng của tiếng Việt. Nói đến từ láy là nói đến một lớp từ có giá trị đặc biệt bởi khả năng gợi tả, gợi cảm, tạo âm thanh hình ảnh cao của nó.
Trong ngôn ngữ học đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, đồng thời cũng có nhiều cách lý giải khác nhau về hiện tượng láy và từ láy. Ngay trong khái niệm về từ láy cũng đã tồn tại nhiều tên gọi khác nhau: Từ phản điệp (Đỗ Hữu Châu, 1962); Từ lấp láy (Nguyễn Nguyên Trứ, 1970); Từ láy (Đào Thản, Hoàng Văn Hành 1970); từ láy âm (Nguyễn Tài Cẩn, 1975); Từ lấp láy (Hồ Lê, 1975); Từ láy âm (Nguyễn Văn Tu, 1976); từ năm 1978 đến 1989 được gọi là Từ láy (Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban). Có thể nêu ra một vài định nghĩa tiêu biểu cho các tên gọi trên Tác giả Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình 12 thức âm tiết (với những thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức quy tắc thanh điệu, biến đổi theo hai nhóm, nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay một đơn vị có nghĩa [ 7 ; tr 153]. Tác giả Nguyễn Thiện Giáp lại cho rằng: “Ngữ láy âm là những cụm từ được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay sự lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có.
Đặc trưng nổi bật của ngữ láy âm là giá trị gợi tả (biểu cảm, mô phỏng, tượng hình, tượng thanh). Tác giả Hoàng Văn Hành quan niệm: “Từ láy nói chung, là từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, vừa hài hòa với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị biểu trưng hóa” [50 ; Tr 121]. Tác giả Hồ Lê nêu: “Từ lấp láy là một từ khá đặc biệt, xét về cấu tạo. Nó có tính chất của từ đơn.
Nó được tạo ra theo phương thức lắp láy. Nhưng không ít trường hợp, quan hệ lắp láy về mặt ngữ nghĩa lại không được hiện ra một cách rõ ràng” [26 ; tr. Với tác giả Nguyễn Nguyên Trứ: “Từ láy đôi trong tiếng Việt hiện đại là một loại từ đơn, trong đó có sự láy lại hoặc là toàn bộ âm tiết, hoặc là phần phụ âm đầu hay phần vần trong kết cấu âm tiết của hai yếu tố tạo thành. Giữa hai âm tiết thường có mối quan hệ thanh điệu theo những quy luật nhất định.
Như vậy, tuy cách diễn giải ở các nhà nghiên cứu có khác nhau những có thể thấy được những thống nhất chung trong quan niệm về từ láy là: Là từ được cấu tạo theo phương thức láy, trong đó có sự lặp lại toàn bộ hoặc một bộ phận của âm tiết, có sự biến đổi ngữ âm giữa hai âm tiết theo những quy luật nhất định. Đặc trưng nổi bật của từ láy là giá trị gợi tả (biểu cảm, mô phỏng, tượng hình, tượng thanh). 13 Tùy theo từ nội dung nghiên cứu của luận văn, chúng tôi sẽ linh hoạt sử dụng các khái niệm, quan niệm này về từ láy trong thống kê, phân loại cũng như tìm hiểu giá trị biểu đạt văn chương của hệ thống từ láy trong HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Giá trị văn chƣơng của từ láy trong văn học và chức năng của từ láy trong thơ Nôm Đƣờng luật 1.
Từ láy trong văn học Từ có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo nên các tác phẩm văn học nghệ thuật, bởi nó là đơn vị chất liệu cơ bản của ngôn ngữ dùng để tạo ra các thông điệp. Khi sáng tác các nhà văn, nhà thơ đều hết sức chú trọng đến việc lựa chọn, thậm chí đắn đo cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định dùng một từ nào đó. Lịch sử văn học đã chứng minh một tác phẩm văn học có tồn tại với thời gian hay không là tuỳ thuộc vào những giá trị mà tác phẩm đó mang lại, trong đó có khả năng sử dụng ngôn từ của tác giả nói chung và từ láy nói riêng. Từ láy đóng vai trò như một sự sáng tạo kỳ thú của ngôn ngữ văn học.
Xét về lịch sử ngôn ngữ văn học, từ láy không ra đời cùng lúc với ngôn ngữ mà bắt đầu xuất hiện ở thế kỷ XII, ngay sau khi hệ thống thanh điệu được hình thành (Theo ý kiến của Đái Xuân Ninh trong cuốn “Hoạt động của từ láy trong tiếng Việt”, NXB Khoa học xã hội, 1978). Như vậy, sự ra đời của từ láy gắn bó chặt chẽ với quá trình hoàn chỉnh ngữ âm, thanh điệu tiếng Việt. Đó là một quá trình biến đổi lâu dài và phức tạp của sự biến âm tạo từ. Trong quá trình đó, từ láy vừa là phương pháp phát triển từ vừa là kết quả của phương pháp đó.
Ở đây chúng tôi không làm công việc tìm hiểu lịch sử ngữ âm tiếng Việt mà chỉ sử dụng kết quả của các nhà nghiên cứu như một cứ liệu để khẳng định từ láy trong tiếng Việt là ngôn ngữ văn chương ở dạng phát triển ổn định. 14 Từ sự nhận thức đó chúng ta có thể nhận thấy: Láy là một phương thức cấu tạo từ quan trọng của tiếng Việt. Trong hệ thống từ vựng tiếng Việt từ láy chiếm một số lượng phong phú. Mấy thập kỷ qua, từ láy tiếng Việt luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bởi tính đa diện, phức tạp nhưng cũng đầy lý thú của nó.
Đối với các sáng tác văn chương thì sự tồn tại của từ láy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Từ phía tác giả, từ láy với giá trị tự thân của nó là giá trị tạo thanh, tạo hình, giá trị gợi ý. cho tác giả khả năng lựa chọn phương thức biểu hiện một cách sáng tạo và đạt hiệu quả cao nhất. Đúng như tác giả Đỗ Hữu Châu đã viết: “Mỗi từ láy là một nốt nhạc về âm thanh chứa đựng trong mình một bức tranh cụ thể của các giác quan: thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác.
làm theo những ấn tượng chủ quan, những cách đánh giá, những thái độ của người nói trước sự vật, hiện tượng đủ sức thông qua các giác quan hướng nội và hướng ngoại của người nghe mà tác động mạnh mẽ đến họ. Đặc biệt từ láy góp phần làm cho tính hình tượng – đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ văn học – được rõ nét và phong phú hơn rất nhiều. Hình tượng văn học qua từ láy có khả năng biểu đạt tư tưởng, tình cảm rất lớn và mang phong cách, cá tính tác giả. Cái nhìn chủ quan cũng như thái độ đánh giá của chủ thể sáng tác bộc lộ rõ nét với khả năng sử dụng và sáng tạo từ láy.
Từ phía độc giả, từ láy tác động trực tiếp, mạnh hơn vào các giác quan bạn đọc và khơi dậy khả năng xúc cảm tinh nhạy hơn. Chính điều này làm nên khả năng đồng sáng tạo từ độc giả. Độc giả vừa đón nhận hình dung hiện thực mà tác giả phản ánh trong tác phẩm vừa từ những liên tưởng và kinh nghiệm cá nhân mà sáng tạo ra một hiện thực của riêng mình, góp phần định giá tác phẩm. Từ láy được sử dụng như một phương tiện phản ánh giàu giá trị thẩm mỹ Nhà văn chiếm lĩnh thực tế bằng ấn tượng chủ quan của mình và sáng tạo nên tác phẩm.
Ngôn từ vừa là phương tiện, vừa là cầu nối để tác giả vừa 15 phản ánh vừa liên hệ với hiện thực. Trong quá trình sử dụng “uy lực” ngôn từ của nhà văn, có thể nói từ láy đóng một vai trò khá đặc biệt. Bằng khả năng đặc tả sự vật ở mức độ tinh tế, từ láy góp phần làm cho chất lượng phản ánh hiện thực trong tác phẩm của nhà văn đạt mức cao hơn, nhiều tầng bậc hơn so với ngôn ngữ thông thường. Ta có thể minh họa cho điều này bằng câu thơ của Nguyễn Trãi trong “Quốc âm thi tập” – tập thơ Nôm đầu tiên – trong tiến trình dòng thơ tiếng Việt: Vừa sáu mươi dư tám chín thu Lưng gầy da xỉ, tướng lù khù (Ngôn chí.
Bài 14) Ở đây có một từ láy được sử dụng rất đắc địa: từ “lù khù”. Với từ láy này Nguyễn Trãi vừa đặc tả được hình dáng, tâm thế của mình vừa thể hiện được cái hóm hỉnh trong phong cách tự trào của ông. Có thể thay từ “lù khù” bằng một từ khác, không phải từ láy thì câu thơ vẫn diễn tả được hình dáng của một ông già như: “chậm”, “yếu”, “kém tinh anh”. nhưng chất lượng phản ánh rõ ràng không hàm súc và giàu sức biểu đạt bằng tà láy “lù khù”.
Không những thế, với từ láy hình tượng trong tác phẩm còn mang tính độc lập tương đối so với hiện thực và thể hiện đậm nét cá tính tác giả, mô tả được hiện thực chủ quan của chủ thể trữ tình. Từ đó buộc độc giả không chỉ đọc tác phẩm ngay trên văn bản mà còn phải đọc bằng kinh nghiệm, bằng tiểu sử văn học mới hiểu được một cách cặn kẽ và hoàn chỉnh giá trị hình tượng. Ở câu thơ trên, ngoài việc hình dung trên câu chữ ta phải hiểu được con người, cốt cách Nguyễn Trãi và hoàn cảnh khi ông làm bài thơ này, đó là thời gian ông phải lui về ở ẩn Côn Sơn sau những bất đồng với triều chính, ta mới thấy được “tướng lù khù” kia chỉ là cách nói tự trào của con người ẩn dật, tự vượt thoát thế tình, tìm cho mình một thế thảnh thơi trong tấm lòng luôn “Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung” vì non nước. 16 Đó là về chất lượng phản ánh, còn về mặt hiệu quả thẩm mỹ rõ ràng từ láy có khả năng diễn đạt nội dung một cách chính xác và tạo ra những xúc động thẩm mỹ cao hơn so với những từ ngữ bình thường.
Hiệu quả thẩm mỹ ở đây cũng xét từ hai phía, phía tác giả và phía bạn đọc.