CHƯƠNG 1: TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN KTNƠTT CỦA HÀ TĨNH VÀ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KTNƠTT CỦA LCĐ, NGHI XUÂN, HÀ TĨNH 1. Sơ lược về tiến trình phát triển tổ chức KTNƠTT của Hà Tĩnh 1. Giai đoạn trước năm 1954 1. Tổ chức không gian làng, xã truyền thống Tỉnh Hà tĩnh là nơi có nền văn hoá lâu đời,cái nôi của sản sinh ra các anh hùng dân tộc.
Tổ chức xã hội của Hà Tĩnh hình thành trên cơ sở làng, dòng tộc và gia đình, là cộng đồng dân cư làm nông nghiệp, quần tụ gắn bó trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử. Mối quan hệ xã hội gắn bó giữa các thành viên trong cộng đồng với nhau, hỗ trợ giúp đỡ nhau trong sản xuất và trong đời sống sinh hoạt hàng ngày,tình cảm láng giềng thân thiện được hình thành từ xa xưa đã trở thành một truyền thống tốt đẹp trong cộng đồng nông thôn Hà Tĩnh. Làng xóm người Việt tổ chức rất đa dạng,linh hoạt bám theo các con đường làng hay triền sông.Hình dáng có thể kéo dài theo tuyến,cũng có khi là hình tròn,ô van,làng xóm ngăn cách nhau bởi cánh đồng trồng lúa.Mỗi làng là một địa giới hành chính, xung quanh làng không có luỹ tre xanh bao bọc,vừa để phòng thủ và để lấy vật liệu làm nhà cửa,đồ da dụng như ở phía Bắc. Nhà ở người nghèo nông thôn khác biệt hoàn toàn so với người giàu.Không gian cư trú cơ sở của tỉnh Hà Tĩnh.
Khuôn viên khu đất nhỏ hơn,diện tích thường chỉ khoảng 1 sào đất (490m2),chung quanh khuôn viên nhà trồng các loại cây,hàng rào được làm sơ sài bằng các thanh tre hoặc để trống có thể đi sang được nhà hàng xóm.Nhà ở củng chia thành hai không gian nhà chính và nhà phụ,những gia đình quá nghèo chỉ có một ngôi nhà nhỏ duy nhất,tất cả mọi sinh hoạt của gia đình đều diễn ra ở đây. 5 Khi nói đến làng Việt,chúng ta không thể không nói đến một số công trình kiến trúc đã đi vào thơ ca và lịch sử của làng như cái cổng làng, cái đình làng, chùa, miếu,ao làng, giếng làng, cầu, chợ… đó là những thành phần cơ bản để xây dựng nên văn hóa truyền thống đặc trưng của làng Việt. Cổng làng là công trình đầu tiên mà bước chân vào làng chúng ta gặp phải. Cũng giống như ngõ ngôi NƠNT, cổng làng thể hiện sự giàu sang hay nghèo khó của dân cư trong làng; làng có nhiều khoa bảng, kẻ sỹ, làng có nhiều chữ,nhiều người học giỏi, đỗ đạt làm quan được cả vùng trọng vọng hay chỉ là làng làm nông thuần tuý, tất cả đều được thể hiện thông qua cái cổng làng.
Cổng làng giàu sang được xây bằng gạch vồ,gạch đá ong,gạch đất nung, đá hộc với tỷ lệ cao lớn,thường chia làm ba khối với sự nguy nga gồm khối đế, khối than và mái; hai bên cột cổng viết chữ đề câu đối ca ngợi công danh của làng,bức đại tự khắc trên mái cổng đề tên làng. Cổng làng trung lưu cũng được xây bằng gạch đá ong, đá hộc, tỷ lệ nhỏ hơn, thấp hơn và ẩn mình cũng với cây đa, bến nước ao làng, cổng làng cũng được trang trí đẹp mắt. Cổng của làng nghèo khó vừa mới được lập nên không được xây dựng kiên cố mà thường được dựng bằng tre,nứa,mái lợp tranh hoặc ngói. Nhìn chung, cổng làng toát lên văn hóa truyền thống lâu đời và sự giàu sang phú quý hay nghèo hèn của một làng Việt.
Trong làng, thường có từ hai đến ba cổng làng, cổng chính nối với đường cái quan, cổng hậu phía sau đi ra đồng ruộng và một cổng đi ra nghĩa địa, nơi chôn cất người chết.Một số hình ảnh nông thôn Hà Tĩnh trước năm 1954.Tổ chức không gian khuôn viên ngôi nhà ở: Khuôn viên ngôi NƠNT vùng Hà Tĩnh được xây dựng đan xen với những lũy tre làng, hay dưới các tán cây xanh, bên cạnh sông suối, ao hồ chúng hòa nhập với nhau đẹp tựa như một bức tranh. Nhìn tổng thể, khuôn viên ngôi NƠNT vùng Hà Tĩnh rất giống nhau, tuy nhiên, chúng có sự khác nhau về diện tích khu đất, cách tổ chức tổng mặt bằng, vật liệu dựng nhà và mái lợp, chúng khác nhau về sự giàu nghèo của người nông dân. Trong xây dựng nhà ở, người Việt đặc biệt chú trọng đến việc giải quyết vi khí hậu cho ngôi nhà như đón hướng gió mát và che hướng gió lạnh, hướng có nhiều bức xạ mặt trời. Theo quan niệm phương Đông, hướng Nam là hướng sinh khí, hướng hưng thịnh, hướng cho gió nồm mát về mùa hè ( Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam); hướng Đông là hướng của Thần linh, nơi có ánh bình minh chiếu vào mỗi buổi sáng làm cho không khí ngôi nhà quang sạch; hướng Bắc là hướng có gió lạnh về mùa đông, hướng Tây nóng do bức xạ nên hai hướng này không được chọn làm hướng xây dựng nhà cửa.
Ngoài ra còn có tránh hướng gió Lào (Tây Nam bay phờn). Cách tổ chức không gian khuôn viên khu đất NƠNT vùng Hà Tĩnh thường bố trí nhà chính quay mặt về hướng nam nhìn ra sân rộng trước nhà; phía trước sân là ao, vườn cây ăn quả, bể nước mưa, giếng nước.Vườn trước trồng cau, giàn trầu. Cây cau thân cao và thẳng vừa có giá trị thẩm mỹ cảnh 7 quan, vừa lấy bóng mát về mùa hè, tán cây có tác dụng như cái ô che nắng, vẫn đón gió nồm nam thổi vào trong nhà ở. Phía sau nhà chính là hướng Bắc, hướng có gió lạnh về mùa đông, nên được trồng cây chuối có lá to bản, cây lại thấp nên lại có thể che bớt gió lạnh.
“Trước cau, sau chuối” là câu lưu truyền nhắc nhở các thế hệ sau này lưu tâm đến tổ chức cảnh quan ngôi nhà và cách giải quyết vi khí hậu cho ngôi nhà ở. Phía sau ngồi nhà ở thường là các công trình phụ trợ như: Chuồng trại chăn nuôi gia súc, nhà để dụng cụ làm nông nghiệp, nhà kho và nhà vệ sinh… [9]. Nhà ở nông thôn người nghèo khác biệt hoàn toàn so với người giàu. Khuôn viên khu đất nhỏ hơn, diện tích thường khoảng 1 sào đất (490m2), chung quanh khuôn viên nhà trồng các loại cây, hàng rào được làm sơ sài bằng các thanh tre hoặc để trống có thể đi sang được nhà hàng xóm.
Nhà ở cũng được chia thành hai không gian nhà chính và nhà phụ, những gia đình quá nghèo chỉ có một ngôi nhà nhỏ duy nhất, tất cả mọi sinh hoạt của gia đình đều diễn ra ở đây (Hình 1.Tổ chức không gian khuôn viên nhà ở Hà Tĩnh. Nhà ở truyền thống b. Hình ảnh nhà ở truyền thống 1. Tổ chức không gian nhà ở: a.
Không gian nhà giàu nông thôn: Nhà chính từ 3-5 gian,nhà hai mái,hai chái lợp ngói mũi,bên dưới có ngói liệt (cách lợp mái 2 lớp theo phương pháp này cho ta hiệu quả thông gió rất tốt về mùa hè).Kết cấu vì kèo của ngôi nhà bằng gỗ,vách tường ván gỗ 9 hoặc xây bằng gạch nung,nền lát gạch bát. Gian giữa của ngôi nhà bố trí bàn thờ tổ tiên và bàn ghế tiếp khách,hai gian bên đặt giường ngủ cho chủ nhà và con trai lớn; hai phòng phụ còn lại,một phòng để đồ đạc quý hoặc lúa thóc,phòng kia là phòng ngủ của phụ nữ và con gái,sau này khi con trai lớn lên xây dựng gia đình thì phòng ngủ này sẻ dành riêng cho gia đình mới. Nhà phụ hay còn gọi là nhà ngang kéo dài 3-5 gian ( từ 1-2 nhà ). Nền nhà phụ thường thấp hơn nền nhà chính.Chiều cao mái cũng thấp hơn.Mái lợp ngói đối với nhà giàu có và lợp rạ, cói đối với nhà trung lưu lớp dưới và nhà nghèo.
Nhà phụ là nơi nấu ăn,bếp,phòng ăn,nơi ngủ của phụ nữ, người giúp việc trong nhà. Ngoài ra, nhà phụ còn là nơi làm các công việc thủ công lúc nông nhàn như dệt vải,dệt cửi,đan lát,thêu thùa,đặt cối xay thóc,cối giã gạo… (Hình 1. Một số hình ảnh nhà ở nông thôn hộ giàu có Hà Tĩnh trước năm 1954 b. Không gian nhà nghèo nông thôn Nhà chính quay mặt về hướng nam và chếch 15-20 0 so với hướng Tây - Bắc,gồm 2-3 gian có chái hoặc không,được dựng bằng tre,nứa,mái lợp rạ,tường vách phên tre nứa,trát trong,ngoài bằng bùn nhuyễn trộn với rơm,nền nhà đắp bằng đất.
Gian ngoài ngôi nhà cũng là nơi đặt bàn thờ tổ tiên,phía trước có bộ chõng tre để tiếp khách,gian bên cạnh là phòng ngủ của cả nhà (không có không gian riêng cho phụ nữ và con gái). Nhà phụ gồm 1-2 gian ,2 chái làm bếp nấu và để nông cụ,cối xay giã gạo…Nhà phụ cũng dựng bằng tre nứa,mái lợp rạ,vách phên trát bùn,nền đắp bằng đất (vùng nông thôn ven 10 biển,vách nhà ở dùng đất sét trộn với cói chặt ngắn nện chặt thành tường,độ dày từ 0,5m- 0,7m). Một phần bán mái của nhà bếp được kéo dài xuống thấp để làm nơi chăn nuôi gia súc.Phía trước nhà là sân bằng đất đầm chặt. Trước sân có ao nhỏ hoặc vườn trồng rau,cây ăn trái.
Nhà ở người nghèo kém tiện nghi hơn so với nhà giàu.Chẳng hạn như không có hiên trong nhà hoặc nếu có thì hiên nhà củng quá hẹp, không đảm bảo điều kiện sử dụng. Chiều cao của ngôi nhà quá thấp,các cửa sổ thường nhỏ,hẹp nên thiếu ánh sáng trong nhà. Tuy vậy,ngôi nhà ở có mái lợp bằng rạ,cói với tường trình bằng đất củng mang lại một hiệu quả sử dụng rất tốt,đảm bảo mát về mùa hè và ấm vào mùa đông. Ngoài các không gian nhà ở nêu trên,NƠNT còn có các không gian phụ như chuồng trại chăn nuôi gia cầm,gia súc.
Để giới thiệu đầy đủ các loại hình nhà ở dân gian Hà Tĩnh, chúng ta còn phải kể đến nhà ở vùng lấn biển vùng duyên hải Bắc Trung Bộ kéo dài từ Thanh Hoá đến Thừa Thiên Huế. Là ngôi nhà ở ven biển có hình dáng và kỹ thuật xây dựng đơn giản, do thường xuyên phải chịu gió bão nên ngôi nhà rất thấp, bám chặt xuống nền đất, nhà sử dụng vì kèo suốt- quá giang bằng tre hoặc gỗ (kéo dài thêm mái phía trước thêm hàng cột hiên Nam ghé một chút về hướng tây để đón gió mát,chống gió lào và chống gió bão từ biển thổi vào). Tường nhà được trình bằng đất dày, trổ rất ít cửa sổ, nếu có thì cửa sổ nhỏ,nằm ở hai gian đầu hồi. Cửa sổ mở về hướng Nam,chỉ có một cửa ra vào từ hiên hướng Nam.
Mái nhà được lợp bằng bổi cói rất dày (sản phẩm sẵn có của địa phương),có khi dày tới gần một mét. Để tránh gió bão, trên bờ nóc còn chèn thêm các đụn cói dài buộc chặt vào với thanh nóc nhà, có khi còn buộc hai cây tre dài rồi vắt qua mái nhà để phòng bão.