ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư nội mạc tử cung là bệnh lý ác tính đứng hàng thứ tư ở phụ nữ và là bệnh lý ác tính phụ khoa thường gặp nhất, chiếm 7% các ca mắc ung thư mới tại Mỹ [6],[18]. Ước tính năm 2021 có 66570 ca mắc mới và 12940 người chết vì các bệnh ung thư ở tử cung. Hầu hết các ca ung thư nội mạc tử cung được chẩn đoán ở độ tuổi quanh và sau mãn kinh, từ 45 đến 74; và đây là nguyên nhân thứ 14 gây chết tại Mỹ [43]. Ở Việt Nam, ung thư nội mạc tử cung có tần suất tương đối cao.
Theo Globocan 2020, tại Việt Nam, số lượng mới mắc ung thư ở thân tử cung là 5354 ca, đứng hàng thứ 6 trong các ung thư ở nữ giới và số lượng tử vong là 1319 ca [62]. Các yếu tố liên quan đến tiên lượng của ung thư nội mạc tử cung là phân loại mô bệnh học (ung thư dạng nội mạc tử cung và không phải dạng nội mạc tử cung), độ biệt hóa mô học của khối u (từ G1: biệt hoá tốt, đến G3: biệt hoá kém), mức độ xâm lấn cơ (<50% hay >50%), giai đoạn tại thời điểm chẩn đoán xác định và sự xâm lấn khoang mạch bạch huyết [17]. Sự phân tầng nguy cơ trước mổ góp phần vào kế hoạch phẫu thuật của bệnh nhân; phẫu thuật viên không cần nạo hạch trong trường hợp u G1 và xâm lấn nhỏ hơn 50% bề dày lớp cơ [66]. Do đó, việc dự đoán độ mô học của u trước mổ là vấn đề quan trọng.
Sinh thiết nội mạc tử cung trước mổ là cốt yếu để xác định loại u và độ mô học; tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã cho thấy có khoảng 25% trường hợp độ mô học của mẫu sinh thiết trước mổ không tương đồng và có xu hướng đánh giá thấp hơn so với kết quả bệnh phẩm sau mổ [11],[67]. Nguyên nhân là do mẫu mô nhỏ khi sinh thiết làm giới hạn đánh giá cấu trúc mô. Hiện nay, cộng hưởng từ (CHT) với độ phân giải cao, là phương tiện hình ảnh được lựa chọn chủ yếu trong đánh giá giai đoạn ung thư nội mạc tử cung. 2 trước mổ, đặc biệt là đánh giá mức độ xâm lấn cơ và loại trừ xâm lấn cổ tử cung [26].
Ung thư nội mạc tử cung thường biểu hiện hình ảnh dày nội mạc tử cung và bất thường tín hiệu trên hình T2W. Tuy nhiên, trong những trường hợp u có kích thước nhỏ và tín hiệu u gần giống với tín hiệu của nội mạc tử cung hoặc cơ tử cung bình thường kế cận, khó phát hiện trên CHT, thì các chuỗi xung nâng cao như chuỗi xung khuếch tán (DWI) giúp phát hiện sự di chuyển của các phân tử nước trong các mô trên vi thể và cải thiện tỷ lệ phát hiện khối u ác tính [50]. Cho đến nay, trên thế giới đã có một số nghiên cứu về hình ảnh CHT trong dự đoán độ mô học của ung thư nội mạc tử cung. Trong đó, vài nhóm nghiên cứu cho thấy một số đặc điểm trên CHT như: giá trị ADC vùng u, mức độ xâm lấn cơ, thể tích u, tỷ lệ thể tích u/ tử cung có liên quan với độ mô học.
Nhận thấy đây là một vấn đề khá mới và có thể triển khai nghiên cứu thêm, do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài ―Giá trị của cộng hưởng từ trong dự đoán độ mô học của ung thư nội mạc tử cung‖ với các mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ của ung thư nội mạc tử cung. Đánh giá giá trị của cộng hưởng từ trong dự đoán độ mô học của ung thư nội mạc tử cung. 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Giải phẫu tử cung - Mô học và sinh lý học của nội mạc tử cung 1. Giải phẫu tử cung Tử cung là một cơ quan chứa thai và đẩy thai ra ngoài lúc đẻ. Tử cung nằm trong chậu hông ngay trên đường giữa phía sau bàng quang, trước trực tràng, dưới các quai ruột non và kết tràng xích-ma và trên âm đạo. Kích thước trung bình là 2cm bề dày (trước-sau), 4cm chỗ rộng nhất và 6cm bề cao.
Tử cung hình nón cụt hơi dẹt trước sau mà đỉnh quay xuống dưới, có một thân, một cổ và phần thắt lại giữa thân và cổ gọi là eo [3]. Hình thể ngoài Thân tử cung có hai mặt, mặt bàng quang và mặt ruột. Mặt bàng quang lồi hướng về phía trước dưới, có phúc mạc phủ tới tận eo và lật lên mặt bàng quang tạo thành túi cùng bàng quang-tử cung. Mặt ruột lồi, hướng lên trên và ra sau, cũng được phúc mạc phủ.
Phúc mạc lách xuống tận phần trên âm đạo rồi quặt lên phủ mặt trước trực tràng tạo nên túi cùng trực tràng-tử cung. Tử cung có 2 bờ bên phải và bên trái dầy và tròn có dây chằng rộng bám. Dọc bờ bên giữa hai lá của dây chằng rộng, có mạch tử cung và ống cạnh buồng trứng di tích của ống trung thận. Đáy tử cung là bờ trên của thân có phúc mạc phủ liên tiếp từ mặt bàng quang sang mặt ruột.
Hai góc bên của thân tử cung liên tiếp với eo vòi tử cung là nơi bám của dây chằng tròn và dây chằng riêng buồng trứng. Cổ tử cung có âm đạo bám vào chia cổ tử cung thành hai phần: phần trên âm đạo và phần âm đạo. Âm đạo bám vòng quanh cổ tử cung theo một đường. 4 chếch xuống dưới và ra trước, ở phần sau bám vào khoảng giữa cổ tử cung còn ở phía trước bám thấp hơn vào khoảng một phần ba dưới cổ [3].
Thiết đồ đứng dọc giữa vùng chậu nữ “Nguồn: Netter Frank H. Hình thể trong Tử cung được đục rỗng thành một khoang dẹt theo chiều trước sau và thắt lại ở chỗ eo tử cung chia khoang thành hai buồng, buồng nhỏ ở dưới nằm trong cổ tử cung gọi là kênh cổ tử cung, buồng to ở trong tử cung gọi là buồng tử cung có hình tam giác. Hai góc bên thông với vòi tử cung, góc dưới thông với kênh cổ tử cung. Hai thành trước và sau của buồng tử cung áp sát vào nhau [3].
Tử cung được cấu tạo từ ngoài vào trong gồm: - Lớp thanh mạc hay lớp ngoài tử cung. Lớp này là phúc mạc bọc tử cung. 5 + Ở phần thân tử cung, cơ có 3 tầng. Tầng ngoài gồm các thớ cơ dọc và một ít cơ vòng.
Tầng giữa rất dày là lớp cơ rối gồm các thớ cơ đan chéo nhau chằng chịt quấn lấy các mạch máu. Tầng trong chủ yếu gồm các thớ cơ vòng. + Ở phần cổ tử cung, cơ mỏng hơn nhiều và không có tầng cơ rối. Chỉ có một tầng cơ vòng kẹp giữa hai tầng cơ dọc.
- Lớp niêm mạc: Hay lớp trong tử cung, mỏng và dính chặt vào lớp cơ. Niêm mạc dày mỏng theo chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng và khi bong ra thì gây hiện tượng kinh nguyệt [3]. Cấu tạo các lớp của tử cung “Nguồn: Marieb Elaine Nicpon, 2007” [41] CHT có độ tương phản mô mềm tốt, nên có khả năng thể hiện được giải phẫu các lớp của tử cung. Trong độ tuổi sinh sản, thân tử cung và cổ tử cung biểu hiện ba lớp riêng biệt trên hình T2W: nội mạc tử cung có tín hiệu cao, lớp cơ trong (vùng nối) có tín hiệu thấp, và lớp cơ ngoài có tín hiệu cao nhẹ.
Cổ tử cung cũng bao gồm ba lớp riêng biệt trên T2W: niêm mạc cổ tử cung có tín hiệu cao, mô đệm cổ tử cung có tín hiệu thấp do sự hiện diện của mô liên. 6 kết sợi, và lớp ngoài có tín hiệu trung gian – cao. Hình ảnh các cấu trúc này thay đổi dưới tác dụng của các hormone từ buồng trứng gồm estrogen và progesterone. Do đó, các lớp ở thân tử cung thường không rõ ràng ở các bé gái trước tuổi dậy thì và ở phụ nữ sau mãn kinh.
Ngoài ra, bề dày hoặc cường độ tín hiệu của mỗi lớp có những thay đổi theo các giai đoạn chu kỳ kinh nguyệt và tuổi tác [30]. Minh họa các lớp của tử cung trên hình T2W “Nguồn: Roth Christopher G. Tử cung bình thường trên hình T2W Đầu mũi tên: nội mạc tử cung có tín hiệu cao. Mũi tên ngắn: lớp cơ trong (vùng nối) có tín hiệu thấp.
Mũi tên dài: lớp cơ ngoài có tín hiệu cao nhẹ. “Nguồn: Novellas Sébastien, 2011” [46]. Thay đổi hình dạng tử cung theo tuổi trên CHT a. Tử cung của một bé gái 9 tuổi trước dậy thì: thân tử cung nhỏ, dài gần bằng cổ tử cung; nội mạc tử cung rất khó nhận biết.
Tử cung của bé gái 12 tuổi: khi kinh nguyệt bắt đầu, thân tử cung trở nên to hơn và giải phẫu các lớp dễ nhận biết hơn, nội mạc tử cung dày lên. Tử cung bình thường ở một phụ nữ 73 tuổi: tử cung giảm thể tích và và hình ảnh các lớp không rõ ràng. “Nguồn: Kido Aki, 2016” [30] 1. Mô học và sinh lý học của nội mạc tử cung Nội mạc tử cung thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt.
Giai đoạn tăng sinh Trong giai đoạn này, các tuyến nội mạc tăng sản, kèm tăng sản nguyên bào sợi và tế bào nội mô mạch máu, đưa đến sự tăng thể tích của lớp nội mạc tử cung. Chất DNA nhân được tổng hợp nhiều và có nhiều phân bào. Thoạt đầu các tuyến nội mạc thẳng, sau đó trở thành ngoằn ngoèo. Mô đệm tăng sản nhiều [1].
Giai đoạn chế tiết Sau rụng trứng, các tuyến có hoạt động chế tiết ở đầu giai đoạn này, các tế bào tuyến có nhiều không bào chứa glycogen, và đội nhân hơi cao. 8 ngoằn ngoèo hình chữ S, nhân tế bào tuyến xếp thành dạng hàng rào. Mô đệm phù nề. Ở cuối giai đoạn này, các tuyến ngoằn ngoèo nhiều hơn, lòng các tuyến giãn nở với các chất chế tiết, lớp biểu mô tuyến trụ thấp, mô đệm chuẩn bị hóa thành màng rụng, các mạch máu xoắn và mao mạch phát triển.
Bắt đầu từ ngày 26, 27 của chu kỳ kinh nguyệt, trong lớp mô đệm có chứa nhiều bạch cầu đa nhân [1]. Kinh nguyệt Kinh nguyệt bình thường kéo dài 4-5 ngày. Trong lúc này, lớp nội mạc thoái hóa nhanh chóng và 50% lượng kinh được đẩy ra ngoài trong vòng 24 giờ đầu. Kinh gồm có lớp nội mạc bị thoái hóa với nhiều bạch cầu đa nhân, hồng cầu và enzym tiêu hủy protein [1].
Trên CHT, nội mạc tử cung bình thường luôn có tín hiệu cao trên T2W bất kể trạng thái nội tiết; còn độ dày của nội mạc thì thay đổi rõ rệt theo các giai đoạn của chu kỳ kinh nguyệt.