CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Viêm ruột thừa cấp 1. Phôi thai và giải phẫu ruột thừa Manh tràng và ruột thừa là một phần của ruột giữa. Manh tràng hình thành giữa hồi tràng và đại tràng vào tuần thứ 5 thai kì.
Sau khi xuất hiện manh tràng thì ruột giữa phát triển dài ra rất nhiều và xếp lại thành hình kẹp tóc gọi là quai rốn. Quai rốn gắn vào rốn nhờ ống noãn hoàng. Động mạch mạc treo tràng trên nằm dọc theo trục quai rốn có vai trò như một trục xoay. Vào tuần thứ 6 – 7, quai rốn xoay 90o ngược chiều kim đồng hồ, hỗng tràng và hồi tràng dài thêm, manh tràng có chỗ phình ra gọi là ruột thừa, nằm ở 1/4 trên trái ổ bụng.
Tuần thứ 11 sau khi xoay lần hai với 270o, manh tràng trở về vị trí dưới gan, sát thành bụng sau, phía trên mào chậu phải 7. trước hồi tràng dải cơ dọc sau hồi tràng manh tràng hồi tràng sau manh tràng dưới hồi tràng hố chậu cạnh manh tràng dưới manh tràng Hình 1. Các vị trí ruột thừa. 4 Chiều dài ruột thừa thay đổi từ 1,2 – 20 cm.
Lỗ đổ của ruột thừa vào trong manh tràng thường cố định phía sau và dưới van hồi manh tràng 2,5 cm. Vị trí đầu tận rất thay đổi, có các vị trí như sau manh tràng, dưới manh tràng, cạnh manh tràng, trước hồi tràng, sau hồi tràng, dưới hồi tràng và hố chậu (Hình 1. Nếu ruột thừaở vị trí phía sau manh tràng dài, đầu tận có thể kéo dài đến phía sau đại tràng lên hoặc tiếp giáp với thận phải và tá tràng. Trong phẫu thuật, xác định gốc ruột thừa dựa vào vị trí hội tụ ba dải cơ dọc của manh tràng và đại tràng lên 8.
Tác giả Trần Thị Hoàng Ngâu 9 nghiên cứu 969 trường hợp VRTC phẫu thuật tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định đã báo cáo vị trí dưới manh tràng là thường gặp nhất với tỉ lệ 45,5%. Ruột thừa được cấp máu chủ yếu từ động mạch ruột thừa nằm trong mạc treo ruột thừa (một nhánh của động mạch hồi đại tràng) và từ một số nhánh của manh tràng sau gọi là động mạch Shesachalam. Tĩnh mạch ruột thừa dẫn lưu về tĩnh mạch hồi tràng, đại tràng phải và đổ về tĩnh mạch mạc treo tràng trên. Hệ thống bạch huyết ruột thừa rất phong phú, dẫn lưu về nhóm hạch hồi đại tràng kế cận động mạch mạc treo tràng trên 10.
Ruột thừa và phúc mạc tạng bao phủ ruột thừa được chi phối bởi thần kinh giao cảm và đối giao cảm từ đám rối mạc treo tràng trên. Các cấu trúc khác có cùng nguồn gốc phôi thai cũng chi phối bởi đám rối này. Do đó, trong giai đoạn đầu của viêm ruột thừa cấp (VRTC), triệu chứng lâm sàng thường mơ hồ và không đặc hiệu. Mô học ruột thừa bình thường Mô học ruột thừa bình thường gồm 5 lớp: thanh mạc, dưới thanh mạc, cơ, dưới niêm mạc, niêm mạc (Hình 1.
- Lớp thanh mạc nằm ngoài cùng, bao lấy toàn bộ ruột thừa ngoại trừ dọc theo bờ mạc treo. Lớp thanh mạc dễ bóc tách khỏi thành ruột thừa nhất là khi bị viêm, do đó ruột thừa được gọi là tạng dưới thanh mạc. - Lớp cơ có cơ vòng ở trong nối tiếp cơ manh tràng và các sợi cơ dọc ở ngoài dày tương đối đồng nhất. Tuy nhiên, có một số vùng nhỏ của ruột thừa thiếu hoàn toàn lớp cơ dọc nên thanh mạc và lớp dưới niêm có thể tiếp xúc nhau.
5 gốc ruột thừa, lớp cơ này dày lên tạo thành dải cơ liên tục với các dải cơ của manh tràng và các phần còn lại của đại tràng. - Lớp dưới niêm có nhiều mảng lympho lớn xuất phát từ lớp niêm mạc. Các mảng lympho này có thể phì đại nhô vào lòng làm hẹp lòng ruột thừa. - Niêm mạc được che phủ bởi một lớp biểu mô trụ giống những nơi khác của đại tràng.
Các tuyến cũng tương tự của đại tràng nhưng ít hơn về số lượng và tính chất nhầy. Mô học ruột thừa bình thường Hình ảnh mô học ruột thừa: a) Các lớp thành ruột thừa và b) Mảng lympho phá vỡ lớp cơ dưới niêm, lớp biểu mô bề mặt mỏng. Nguyên nhân viêm ruột thừa cấp Nguyên nhân gây VRTC là do sự tắc nghẽn trong lòng ruột thừa, sự tắc nghẽn này thường do các nguyên nhân như sự phì đại của các nang bạch huyết (chiếm 60%), ứ đọng sỏi phân trong lòng ruột thừa (chiếm tỉ lệ 35%), còn lại là vật lạ trong lòng ruột thừa, bướu thành ruột thừa hay bướu manh tràng, do ruột thừa bị gập góc hay xoắn vặn 12. Sinh lý bệnh và mô bệnh học viêm ruột thừa cấp Khi lòng ruột thừa bị tắc nghẽn, quá trình bệnh lý phụ thuộc vào thể tích lòng ruột thừa, mức độ tắc nghẽn, sự xuất tiết liên tục của niêm mạc ruột thừa, tính không đàn hồi của niêm mạc ruột thừa.
6 Sự tắc nghẽn làm tăng áp suất trong lòng ruột thừa và gây ra đình trệ hồi lưu bạch mạch, tạo điều kiện cho vi trùng phát triển gây loét hoại tử niêm mạc ruột thừa. Đây là giai đoạn viêm ruột thừa cấp sớm. Bệnh nhân sẽ thấy đau bụng âm ỉ quanh rốn hay thượng vị kèm theo nôn và buồn nôn. Trên hình ảnh CHT, giai đoạn này có thể thấy hình ảnh VRTC như ruột thừa tăng kích thước nhẹ, lòng chứa dịch tín hiệu cao trên T2W nhưng các đặc điểm viêm chưa rõ ràng và thường chưa có hoặc chưa rõ các đặc điểm viêm xung quanh như thâm nhiễm mỡ hay tụ dịch xung quanh.
Phẫu thuật và giải phẫu bệnh có thể ghi nhận hình ảnh viêm ruột thừa sung huyết với đặc điểm đại thể thành cứng, mạch máu nổi rõ, niêm mạc sung huyết phù nề, có chất ứ đọng bên trong. Giải phẫu bệnh thấy hình ảnh vi thể chỉ có ít dịch xuất chứa bạch cầu đa nhân trung tính ở niêm mạc, dưới niêm mạc (đôi khi có tổn thương niêm mạc) và có kèm sung huyết, thấm nhập bạch cầu ở dưới thanh mạc. Thanh mạc trơn bóng, chắc và lốm đốm có hạt 11 (Hình 1. Viêm ruột thừa sung huyết Hình đại thể (a) và vi thể (b) “Nguồn: Goldblum J.
Sự xuất tiết ngày càng tăng làm tắc nghẽn hoàn toàn mao mạch gây ra thiếu máu nuôi ruột thừa. Đây là giai đoạn viêm ruột thừa mủ. Lúc này, lớp thanh mạc ruột thừa viêm tấy tiếp xúc với lá phúc mạc thành gây ra đau nội tạng được cảm nhận ở 1/4 dưới bụng bên phải, khiến bệnh nhân đau khu trú hố chậu phải khi ấn tay vào. Trên hình ảnh CHT, thấy rõ hình ảnh VRTC với các đặc điểm ruột thừa lớn rõ với lòng ứ dịch – dịch tín hiệu cao mạnh trên T2W và hạn chế khuếch tán, thành dày tăng tín.
7 hiệu trên T2W và hạn chế khuếch tán, thâm nhiễm mỡ và tụ dịch quanh ruột thừa (dịch xung quanh thường ít và không hạn chế khuếch tán). Khi phẫu thuật ghi nhận ruột thừa có thanh mạc sung huyết nhiều, có giả mạc bao quanh và dịch tiết do phản ứng viêm, niêm mạc sung huyết đỏ chứa mủ. Giải phẫu bệnh thấy hình ảnh vi thể bạch cầu đa nhân trung tính thấm nhập các lớp thành ruột nhiều hơn, nhất là lớp cơ và thanh mạc bị phủ bởi lớp mủ fibrin 11 (Hình 1. Viêm ruột thừa mủ Hình đại thể (a) và vi thể (b) “Nguồn: Goldblum J., 2017” 11 Vùng thiếu máu nhiều nhất của ruột thừa chính là bờ tự do, dẫn đến xuất hiện điểm hoại tử.
Đây là giai đoạn viêm ruột thừa hoại tử - giai đoạn đầu của viêm ruột thừa có biến chứng. Từ điểm hoại tử này, ruột thừa bị thủng và vi trùng trong lòng ruột thừa sẽ lan nhanh vào xoang phúc mạc gây viêm phúc mạc. Các quai ruột và mạc nối sẽ khu trú ổ viêm nhiễm tạo nên áp-xe ruột thừa hoặc viêm phúc mạc khu trú. Ở bệnh nhân nhỏ tuổi hoặc người già, diễn tiến viêm ruột thừa có thể sẽ nhanh đưa đến bệnh cảnh viêm phúc mạc toàn thể 13.
Trên CHT, hình ảnh thường rõ ràng hơn giai đoạn chưa biến chứng, đặc biệt các đặc điểm xung quanh ruột thừa. Thâm nhiễm mỡ và tụ dịch xung quanh nhiều hơn, dịch có thể hạn chế khuếch tán. Ngoài ra, nếu lỗ thủng của ruột thừa lớn có thể thấy thành ruột thừa mất liên tục, sỏi phân và khí ngoài lòng ruột thừa. Nếu có áp-xe ruột thừa trên hình ảnh CHT sẽ thấy cạnh ruột thừa có ổ dịch hạn chế khuếch tán, giới hạn rõ và có thể không thấy rõ hình ảnh ruột thừa.
Nếu viêm phúc mạc toàn thể thì ngoài vùng quanh ruột thừa, thâm nhiễm mỡ và tụ dịch có thể gặp ở các vùng khác trong ổ bụng. Phẫu thuật ghi nhận hình ảnh đại thể ruột thừa đỏ. 8 sẫm hoặc tím đen, mạc treo ruột thừa phù nề, xung quanh là dịch mủ, nếu áp-xe sẽ thấy các quai ruột và mạc nối dính thành một khối xung quanh ổ mủ. Giải phẫu bệnh ghi nhận hình ảnh vi thể với loét xuất huyết niêm mạc, hoại tử và hoại thư ở vách ra đến thanh mạc 11 (Hình 1.
Viêm ruột thừa hoại tử Hình đại thể (a) và vi thể (b) “Nguồn: Goldblum J. Viêm quanh ruột thừa là tình trạng viêm thanh mạc ruột thừa, có thể gặp ở VRTC hoặc thứ phát sau viêm các cơ quan lân cận (ví dụ phần phụ). Đặc điểm của viêm quanh ruột thừa là dịch mủ và kết dính xung quanh ruột thừa. Nếu thấy viêm quanh ruột thừa, ngoài kiểm tra kĩ ruột thừa cần đánh giá các cơ quan lân cận tìm nguyên nhân như viêm túi thừa hay viêm, áp-xe phần phụ 11.
Viêm ruột thừa cấp trong thai kì 1. Vài nét về lịch sử Năm 1848, Henry Hancock, Chủ tịch hiệp hội Y khoa London, đã báo cáo chính thức ca viêm ruột thừa ở Bệnh viện Charing Cross London, ở một trường hợp nữ 30 tuổi và mang thai lần thứ 5, song thai tháng thứ 7. Ông là tác giả của bài báo cáo đầu tiên và là người phẫu thuật thành công ca viêm ruột thừa biến chứng tạo áp xe quanh manh tràng được chẩn đoán sau khi thai chết lưu 14. Năm 1892, Wiggins báo cáo ca đầu tiên được chẩn đoán khi mẹ và thai còn sống.
Tuy nhiên, bệnh nhân đã từ chối phẫu thuật 2. 9 Năm 1894, Paul Fortunatus Mundé, một bác sĩ sản phụ khoa ở New York công bố lần đầu tiên điều trị thành công một trường hợp áp xe ruột thừa 15. Tần suất VRTC là nguyên nhân đau bụng cấp thường gặp nhất trong giai đoạn thai kì và hậu sản. Ước tính tỉ lệ mắc VRTC trong thai kì rất khác nhau từ 1/181 đến 1/8770 2.