Chương I THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN: TÊN GỌI VÀ CÁCH PHÂN LOẠI A. TÊN GỌI CỦA THUỐC Y HỌC cổ TRUYEN: Tên gọi của thuốc thường căn cứ vào các mặt sau đây: 1. Theo hình thái của thuốc: rất nhiều loại thuốc được đặt tên theo hình thái như: Nhũ hương vì các giọt nhựa cây chảy ra hình thành dạng như núm vú và mùi thơm, Ngưu tất do các đốt thân cây phình ra như đầu gối con bò, Bối mẫu hình dạng như cái lưng, Băng phiến là nhựa kết tinh của Long não trắng như băng, Câu đằng do dây có gai như móc câu. Theo màu sắc: màu đỏ có Hồng hoa, Xích thược, Đơn sâm, Chu sa, màu vàng có Hoàng cầm, Hoàng kỳ, Hoàng bá, Kim anh tử, màu trắng có Bạch Truật, Bạch thược, Bạch chỉ, màu xanh như Thanh bì, Thanh đại, Thanh hao, Đại thanh diệp, màu lục có Lục đậụt lục phàn, màu đen có Huyền sâm, Hắc chi ma, Hắc đại đậu, 'Hắc-thăng ma, màu tím có Tử thảo, Tử sâm.
Theo khí vị: như Xạ Hương (mùi thơm bay xa) Ngư tinh thảo (mùi tanh như cá), những vị có hương thơm như Đinh hương, Mộc hương, Giáng hương, Hoắc hương, vị ngọt như Cam thảo, Cam cúc, vị đắng như Khổ hạnh nhân, Khổ ặâm, Khổ qua. cay như Tế tân, Tân di, nhạt (đạm) như Đạm đậu xi, Đạm trúc diệp., có vi thuốc tên cây thuốc như Đạm trúc diệp., có vị thuốc tên Ngũ vị tử vì bản thân cây thuốc có 5 vị: vỏ chua, ngọt, hạt thì cay đắng mặn 4. Theo địa danh: thường lấy tên nơi sản xuất ra loại thuốc 5 đó (thường nơi sản xuất ra loại thuốc tốt) như thuốc sản xuất tại tỉnh Tứ Xuyên gọi là Xuyên khung, Xuyên ô, Xuyên luyện tử, Xuyên bối, Xuyên tiêu, Xuyên đoạn, thuốc sản xuất tại phủ Hoài Khánh tỉnh Hà Nam thì gọi là Hoài sơn, Hoài địa hoàng, Hoài Ngưu tất, Hoài Cúc Hoa. sản xuất tại Quảng Đông thì gọi là Quảng Mộc hương, Quảng tê giác, sản xuất ở Triết Giang, Hàng châu thì gọi là Triết bối, Hàng bạch chỉ, Hàng cúc hoa, Hàng bạch thược, ở Vân Nam thì gọi là Vân phục linh.
Theo đặc điểm sinh trưởng của thuốc: Ví dụ Hạ khô thảo (khô về mùa hạ) Mạch đông, Đông thanh (mùa đông vẫn xanh tươi) Khoản đông hoa (ra hoa về mùa đông) Tang ký sinh (cây thuốc mọc bám vào cây dâu) Thạch vĩ (cây mọc trên đá). Theo tên bộ phận dùng làm thuốc: như dùng rễ có Cát căn, Lô căn, Ma hoàng căn, Bản lam căn, thứ dùng cành làm thuốc thì'CÓ: Tô ngạnh, Hoắc hương ngạnh, Quế chi, Tang chi, loại dùng lá có Tô diệp, Ngãi diệp, Trắc bá điệp. dùng hoa có Hồng hoa, Cúc hoa, Kim ngân hoa. dùng quả có Bạch quả, La hán quả hoặc La bạc tử (hạt củ cải.
Hạnh nhân, Đào nhân, Bá tử nhân, về động vật có Lộc nhung, Lộc giác, Tê giác, Quảng tê giác, Thuyền thối, HỔ cốt, Kê-nội kim, Qui bản, Miết giáp. Theo tác dụng của thuốc: như Phòng phong, ích mẫu thảo, Cốt toái bổ (làm lành xương gãy). Theo tên người tìm ra vị thuốc : như Đỗ trọng (do ông Đỗ Trọng đã từng uống vị thuốc thấy người khỏe ra. Theo cách bào chế: như Chích cam thảo, Diêm tri mẫu, Bào khương, Thục địa hoàng, Khương bán hạ, sao bạch truật, tửu quân (Đại hoàng sao rượu).
Các cách gọi tên khác: như theo thời gian tàng trữ thuốc: thuốc để lâu gọi là Trần bì (vỏ quít lâu nám) Trần mễ (gạo lâu năm) gọi là theo mùa thu hái như xuân Sài hồ, Đông tang diệp (lá dâu hái về mùa đông) theo chiêt tự chữ Hán như Bằng sa (cũng gọi là Nguyệt thạch (trong chữ Bằng có 2 chữ nguyệt và chữ thạch) Tín thạch còn gọi là Nhân ngôn (vì chữ tín có chữ nhân và chữ ngôn) Khiên ngưu tử có 2 loại gọi là Hắc sửu và Bạch sửu (vì sửu trong 12. chi là thuộc con trâu (ngưu). CÁCH PHÂN LOẠI THUÓC Y HỌC cổ TRUYEN: 1. Phân loại theo tác dụng và độc tính của thuốc là cách phân loại đầu tiên của sách “Thần Nông bản thảo kinh”.
Sách này chia thuốc làm 3 loại: (1) Thuốc thượng phẩm: là loại thuốc có tác dụng bổ dưỡng, không có độc gồm 120 vị như Nhân sâm, Cam thảo, Địa hoàng, Thạch hộc, Ba kích thiên, Hoàng kỳ, Câu kỷ, A giao. (2) Thuốc trung phẩm: là loại thuốc vừa có tác dụng bổ hư và trị bệnh, có độc hoặc không độc gồm 120 loại như: can khương, Ma hoàng, Đương qui, Thược dược, Ngô thù, Hậu phác, Miết giáp. (3) Thuốc hạ phẩm: chuyên trị, bệnh, phần lớn có độc, không được uống lâu gồm 125 loại như Phụ tử, bán hạ, Đại hoàng, cam toại, Lang độc, Ba đậu. Đây là cách phân loại sớm nhất mà các sách thuốc sau này như sách “Bản thảo kinh tập chú”, Tân tu bản thảo, “Chứng loại bản thảo đều phân loại theo cách này.
Phân loại theo thuộc tính thiên nhiên: như phân theo loại cỏ hoang, loại dây leo, loại ngũ cốc, loại rau, quả, cây, côn trùng, loại cá, loại chim, loại gia súc, loại thú rừng, các thứ nước, các loại đất, loại đá, muối khoáng, thuộc về người. Nhiều sách đã theo cách này như sách Bản thảo kinh tập chú, Tân tu bản thảo, Loại chứng bản thảo, Bản thảo cương mục, Lĩnh Nam bản thảo (Hải Thượng Lãn Ông). Phân theo tạng phủ, kinh lạc: như các sách “Tạng phủ tiêu bản dược thức” (Trương nguyên Tố) lấy tạng phủ làm cương lĩnh và bệnh lý làm mục (sắp xếp thuốc theo bệnh lý). Sách “Bản thảo phân kinh thì lấy kinh lạc làm cương, lấy dược phẩm làm mục, mỗi mục lại chia ra các loại: bổ, hòa, công, tán, hàn, nhiệt.
Sách “Dược phẩm vậng yếu” của Hải Thượng lãn ông chia theo Bộ như: Bô hỏa gồm: nhục quế, Phụ tử, ô đầu, Viễn chí, Đinh hương, Xạ hương, Một dược, Hồng hoa, Hoàng liên, Hoàng cầm, Đăng tâm. bộ mộc có: Đương qui, Tần giao, Câu đằng, Kinh giới, Bạc hà, Trúc nhự, Tế tân, Thiên ma. bộ thổ có: Bạch truật, Bạch linh, Cam thảo, Sơn dược, Liên nhục, Đại táo, Sinh khương, ích trí nhân, Hậu phác, Bán hạ, Cốc nha, Mạch nha, Long nhãn, Biển đậu, Thương truật. Bộ Kim có: Nhân sâm, Hoàng kỳ, Sa xâm, Mạch môn, Ngũ vị tử, Tử uyển, Tang bạch bì, Mộc hương, Trầm hương, Hương phụ, Chỉ xác, Chỉ thực, Trần bì, Hạnh nhân, Thạch xương 7 bồ.
bộ Thuỷ có: Sinh địa, Thục địa, Lộc nhung, Hà thủ ô, Sơn thu, Cau kỷ, Thỏ ti, Ngưu tất, Đỗ trọng, Tục đoạn, A giao, Huyền sâm, Hoàng bá. Phân loại theo tác dụng của thuốc theo dược lý cổ truyền: như thuốc giải biểu có Ma hoàng, Quê chi, Tô điệp, sinh Khương, Kinh giới, Phòng phong, Khương hoạt. là thuốc giải cảm phong hàn có Bạc hà, Thuyền thối, Đạm đậu xị, Tang điệp, Cúc hoa, Cát căn, Màn kinh tử, Sài hồ, Thăng ma, Phù bình. là thuốc giải cảm phong nhiêt, thuôc thanh nhiẹt co: Thạch cao, Tri mau, Lo căn, Thiên hoa phấn, Trúc điệp, Chi tử, Hạ khô thảo, Hàn thuỷ thạch, Tây qua.
(Thanh nhiệt tả hỏa), Hoàng liên, Hoàng bá, Hoàng cầm, Khổ sâm, Long dam thao. (la thuoc thanh nhiet tao thấp), Tê giác, Sinh địa, Huyền sâm, Mẫu đơn bì, Xích thược,. (thanh nhiệt lương huyết), Kim ngân hoa, Liên kiều, Bồ công anh, Xuyên tâm liên, Thanh đại, Thổ phục linh, Ngư tinh thảo. (Thuốc thanh nhiệt giải độc), Thanh hao, Địa cốt bì, Ngân sài hồ, Hồ hoàng liên,.
(thanh hư nhiệt), Thuốc tả hạ có Đại hoàng, Mang tiêu, Lô hội, Ba đậu. (công hạ) Hỏa ma nhân, uất lý nhân (nhuận hạ) Thuốc trừ phong thấp như Khương hoạt, Uy linh tiên, Phòng ký, Tần giao, Mộc qua, Ngũ gia bì,. thuốc phương hương hóa thấp như Thương truật, Hậu phác, Hoắc hương, Bội lan, Sa nhân, Bạch đậu khấu, Thảo quả,. Thuốc lợi thấp như Phục linh, Trư linh trạch tả, Ý dĩ, Xa tiền tử, Hoạt thạch, Đăng tâm, Đông qua bì, Ngọc mễ tu (râu bắp), thuốc ôn lý như Phụ tử, o đâu, Nhục quế, Can khương, Ngô thù, Tế tân., Thuốc tiêu thực như Sơn tra, Mạch nha, Thần khúc, La bặc tử, Kê nội kim., thuốc lý khí như Quất hạch, Thanh bì, Chỉ thực, Chỉ xác, Mộc hương, Ô dược, Hương phụ, Lệ chi hạch.
thuốc trục trùng: Sử quân tử, Nam qua tử, Binh lang, Lôi hoàn, Quán chúng. Thuốc cầm máu (chỉ huyết) có Đại kế, Tiểu kế, Địa du, Bạch mao căn, Bạch cập, Ngãi diệp, Bồ hoàng, thuốc hoạt huyết như Đơn sâm, Nhũ hương, Một dược, Ngưu tất, Ngũ linh chi, ích mẫu thảo, Xuyên sơn giáp, Thủy diệt, Tam lăng, Nga truật, Vương bất lưư hành. thuốc chỉ khái hóa đờm như Bán hạ, Nam tinh, Qua lâu, Bối mẫu, Trúc nhự, Trúc lịch, Hải tảo, Côn bố, Tạo giác thích, Cát cánh, Tuyên phục hoa,. thuốc an thần như Chu sa, Long cốt, Hổ phách, Toan táo nhân, Bá tử nhân, Viên chí, Linh chi.
8 Thuốc bình can tức phong như Linh dương giác, Thạch quyêt minh, Mẫu lệ, Trân châu, Đại giá thạch, Câu đằng, Quyet minh tử, Toàn yết, Ngô công, Bạch cương tàm, Địa long,. thuôc khai khiếu như Xạ hương, Băng phiến, Tô hợp hương, Thạch xương bô. thuốc bố gồm có thuốc bổ khí như Nhân sâm, Bạch truật, Hoang kỳ, Sơn dược, Cam thảo,. Thuốc bổ dương như Lộc nhung, Tư ha xa, Cáp giới, Đông trùng hạ thảo, Nhục thung dung, Ba kích thiên.
Dam dương hoắc? Đỗ trọng, Tục đoạn, ích trí nhân Thuốc bổ huyết như Đương qui, Thục địa, Hà thủ ô, Bạch thược, A giao, Long nhãn nhục, thuốc bổ âm như Nam, Bắc sa sâm, Mạch môn, Thien môn, Thạch hộc, Hoàng tinh, Cáu kỷ, Miết giáp, Qui bản. Thuộc thu ỉiễm như Ngũ vị tử, Ô mai, Ma hoàng căn, Thạch lựu bì, Kha tử, Nhục đậu khấu. thuốc gây nôn như Qua đế, Thường sơn Minh phàn, Lê lô. và thuốc dùng ngoài như Lưu hoàng, Hùng hoàng, Bang sa, Bạch phàn, Đại toán, Ban miêu, Thiềm tô, Xà sàng tử.
gom 20 loại tuy chưa hoàn hảo nhưng là cách phân loại tốt nhất hiện nay để sử dụng thuốc tốt trên lâm sàng phù hợp với Y lý cổ truyền. 9 Chương II TÍNH NĂNG CỦA ĐÔNG DƯỢC Tính năng của thuốc là tính chất và công năng của thuốc, nói lên tác dụng chữa bệnh của thuốc theo Y lý cổ truyền. Người thầy thuốc nắm vững tính năng của thuốc mới sử dụng thuốc có hiệu quả trong điều trị bệnh. Tính năng của thuốc Đông y bao gồm: tứ khí ngũ vị, thăng giáng phù trầm, qui kinh và độc tính của thuốc.
TỨ KHÍ NGŨ VỊ. Tứ khí (tứ tính) Tứ khí là chỉ 4 loại dược tính khác nhau của thuốc: hàn (lạnh) lương (mát) nhiệt (nóng) ôn (ấm), là chỉ mức độ nóng lạnh khác nhau của thuốc.