Giáo trình Dung sai lắp ghép và Đo lường Kỹ thuật - Tác giả Tạ Thị Hoàng Thân

Giáo trình đầy đủ về Dung sai lắp ghép và đo lường kỹ thuật. Cung cấp khái niệm, sai lệch, cách tra bảng và các dụng cụ đo lường trong ngành cơ khí.

Trường đại học

Trường Cao đẳng Nghề Tỉnh Lào Cai

Chuyên ngành

Dung sai lắp ghép và Đo lường kỹ thuật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Textbook

2017

83
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm cơ bản về dung sai lắp ghép và đo lường kỹ thuật

Dung sai lắp ghép và đo lường kỹ thuật là một môn học quan trọng trong ngành chế tạo máy, đặc biệt đối với các ngành hàn, cắt gọt kim loại. Môn học này nghiên cứu những nguyên tắc thiết lập và biện pháp chế tạo để các chi tiết máy đạt được tính đổi lẫn chức năng về mặt hình học. Mục tiêu chính là trang bị những tiêu chuẩn về dung sai và biện pháp kiểm tra yếu tố hình học của chi tiết máy. Điều này giúp đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và hiệu quả kinh tế trong quá trình chế tạo. Để đảm bảo tính đổi lẫn chức năng, các chi tiết máy cần có tính đồng nhất về kích thước, hình dáng, độ cứng, độ bền và các thông số vật lý, hóa học khác. Khi tất cả các thông số này được quy định trong giới hạn dung sai, sản phẩm sẽ đạt được chỉ tiêu kỹ thuật cao nhất.

1.1. Định nghĩa kích thước sai lệch và dung sai

Kích thước là thông số cơ bản để xác định hình dạng và kích cỡ của chi tiết máy. Sai lệch giới hạn là hiệu số giữa kích thước tối đa và tối thiểu cho phép. Dung sai là phạm vi biến thiên kích thước được phép trong quá trình chế tạo. Những khái niệm này là nền tảng để hiểu rõ về chất lượng lắp ghép và các yêu cầu kỹ thuật sản phẩm.

1.2. Tầm quan trọng của dung sai trong sản xuất

Dung sai đóng vai trò cầu nối giữa người thiết kế và người chế tạo. Người thiết kế mong muốn độ chính xác cao (dung sai nhỏ) để đảm bảo hiệu năng, trong khi chế tạo ưa thích dung sai lớn để dễ sản xuất. Việc xây dựng tiêu chuẩn dung sai hợp lý giúp cân bằng giữa chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế.

II. Hệ thống dung sai lắp ghép bề mặt trơn

Hệ thống dung sai lắp ghép bề mặt trơn là một phần quan trọng trong tiêu chuẩn quốc gia về dung sai. Hệ thống này được thiết kế dựa trên các nguyên tắc chuẩn hóa quốc tế, phù hợp với nhu cầu thực tế của ngành chế tạo Việt Nam. Quy định dung sai được xác định thông qua các bảng tiêu chuẩn, giúp kỹ sư và công nhân dễ dàng tra cứu và áp dụng. Có ba loại lắp ghép chính: lắp lỏng, lắp trung gian và lắp chặt, mỗi loại có ứng dụng riêng biệt. Hệ thống lắp ghép này được quy định chi tiết để đảm bảo sản phẩm có tính đổi lẫn cao, từ đó giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng lắp ráp.

2.1. Các loại lắp ghép và ứng dụng

Lắp lỏng được sử dụng khi cần chuyển động giữa các chi tiết. Lắp trung gian dùng cho những trường hợp không yêu cầu chuyển động. Lắp chặt đảm bảo hai chi tiết ghép lại với nhau một cách cứng chắc. Mỗi loại lắp có phạm vi ứng dụng cụ thể trong các ngành công nghiệp khác nhau, từ máy công cụ đến thiết bị nặng.

2.2. Tra bảng dung sai tiêu chuẩn

Các bảng dung sai tiêu chuẩn được quy định theo tiêu chuẩn Việt Nam, cho phép kỹ sư tra cứu nhanh chóng giá trị dung sai cho từng kích thước cụ thể. Việc sử dụng thành thạo bảng tiêu chuẩn là kỹ năng cơ bản của mỗi kỹ sư thiết kế và công nhân chế tạo.

III. Dung sai truyền động bánh răng và ren

Dung sai truyền động bánh răngdung sai mối ghép ren là hai nội dung chuyên ngành quan trọng trong lĩnh vực chế tạo máy. Các thông số cơ bản của truyền bánh răng bao gồm mô đun, số răng, và các yêu cầu kỹ thuật về độ chính xác. Cấp chính xác chế tạo bánh răng được quy định từ cấp 6 đến cấp 12, với cấp 6 có độ chính xác cao nhất. Dung sai lắp ghép ren được chia thành hai hệ thống: ren mét và ren thang (inch), mỗi hệ thống có các bảng dung sai riêng. Việc hiểu rõ về kí hiệu bánh răng trên bản vẽ kỹ thuật là cần thiết để đảm bảo quá trình chế tạo và lắp ráp chính xác, nâng cao độ tin cậy của hệ thống truyền động.

3.1. Yêu cầu kỹ thuật và đánh giá độ chính xác bánh răng

Yêu cầu kỹ thuật của bánh răng bao gồm độ chính xác tích chuyển, độ chạy tổng hợp, và sai lệch sập dạo. Đánh giá mức chính xác được thực hiện thông qua các phép đo chuyên dụng. Cấp chính xác từ 6-7 dùng cho truyền động có tốc độ cao, từ 8-9 cho truyền động bình thường.

3.2. Tiêu chuẩn dung sai ren mét và ren thang

Ren hệ mét tuân theo tiêu chuẩn ISO, với bước ren tiêu chuẩn và dung sai được quy định rõ ràng. Ren thang (inch) được sử dụng chủ yếu trong các ứng dụng cũ và một số lĩnh vực chuyên dụng. Hiểu rõ dung sai lắp ghép ren giúp đảm bảo chất lượng kết nối có tuổi thọ dài.

IV. Sai lệch hình dạng vị trí và các dụng cụ đo lường

Sai lệch hình dạng và vị trí bề mặt là những thông số hình học quan trọng bên cạnh kích thước. Sai lệch về hình dáng bao gồm sai lệch thẳng, sai lệch tròn, sai lệch bằng phẳng, và các loại sai lệch khác. Sai lệch vị trí tương quan giữa các bề mặt liên quan đến song song, vuông góc, và tập trung. Nhám bề mặt được đánh giá bằng các chỉ tiêu như độ cao địa hình, độ sâu lỗ chứa. Để kiểm tra và xác minh những thông số này, cần sử dụng các dụng cụ đo lường thích hợp. Thước không có du xích được dùng cho các phép đo sơ bộ, trong khi dụng cụ đo dạng thước cặp (có nguyên lí du xích) cung cấp độ chính xác cao hơn. Việc sử dụng thành thạo các dụng cụ đo là kỹ năng thiết yếu của mỗi công nhân chế tạo.

4.1. Sai lệch hình dạng vị trí và nhám bề mặt

Sai lệch hình dạng ảnh hưởng đến chức năng lắp ghép của chi tiết. Sai lệch vị trí quyết định khả năng chính xác của bộ lắp ráp. Các chỉ tiêu nhám như Ra, Rz, Rt được ghi kích thước trên bản vẽ kỹ thuật bằng các kí hiệu tiêu chuẩn, giúp công nhân hiểu rõ yêu cầu về độ sạch bề mặt.

4.2. Các dụng cụ đo thông dụng và nguyên lí du xích

Dụng cụ đo có độ chính xác thấp như thước thông thường, thước kẻ được dùng cho phép đo sơ bộ. Thước cặp có cấu tạo đơn giản nhưng hiệu quả, dựa trên nguyên lí du xích Nonius để đạt độ chính xác 0,05mm hoặc 0,1mm. Việc nắm vững cách sử dụng các dụng cụ này là bước đầu tiên để trở thành công nhân chuyên nghiệp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Khái niệm về dung sai lắp ghép. Khái niệm về kích thước, sai lệch, dung sai. Khái niệm về kích thước. Sai lệch giới hạn.

Lắp ghép và các loại lắp ghép. Khái niệm về lắp ghép. Các loại lắp ghép. Các loại lắp ghép.

Hệ thống dung sai lắp ghép bề mặt trơn. Quy định dung sai. Hệ thống lắp ghép. Phạm vi ứng dụng của các lắp ghép tiêu chuẩn.

Phạm vi ứng dụng của các kiểu lắp lỏng. Phạm vi ứng dụng của các kiểu lắp trung gian. Phạm vi ứng dụng của các kiểu lắp chặt. Dung sai truyền động bánh răng.

Các thông số cơ bản của truyền bánh răng. Các yêu cầu kĩ thuật. Đánh giá mức chính xác của bộ truyền bánh răng. Cấp chính xác chế tạo bánh răng.

Kí hiệu bánh răng trên bản vẽ. Dung sai mối ghép ren. Dung sai lắp ghép ren hệ mét. Dung sai lắp ghép ren thang.

Chương 3: Sai lệch hình dạng, vị trí và nhám bề mặt. Sai lệch hình dạng và vị trí bề mặt. Sai lệch về hình dáng. Sai lệch vị trí tương quan giữa các bề măt.

Ghi kích thước cho bản vẽ. Nhám bề mặt. Các chỉ tiêu đánh giá nhám. Các kí hiệu trên bản vẽ.

Chương 4: Các dụng cụ đo lường thông dụng trong chế tạo máy. Dụng cụ đo có độ chính xác thấp (thước không có Du xích).Dụng cụ đo dạng thước cặp. Công dụng,cấu tạo. Nguyên lí du xích.

Cách sử dụng. Cách bảo quản.Dụng cụ đo dạng panme. Dụng cụ đo dạng đồng hồ so. Công dụng,cấu tạo.

Cách sử dụng. Cách bảo quản. Các dụng cụ đo kiểm khác. Tài liệu tham khảo……………………………………………………………….

KHÁI NIỆM VỀ DUNG SAI LẮP GHÉP 1. KHÁI NIỆM VỀ KÍCH THƯỚC, SAI LỆCH, DUNG SAI 1. Khái niệm về kích thước 1. Kích thước Kích thước là giá trị bằng số của đại lượng đo chiều dài.

Theo đơn vị đo được lựa chọn. Trong công nghệ chế tạo cơ khí, đơn vị đo thường dùng là milimét (mm) và quy ước thống nhất trên các bản vẽ không cần ghi chữ (mm). Ví dụ: Chi tiết có đường kính 19,95mm, chiều dài 125,5mm thì trên bản vẽ chỉ cần ghi ø19,95 và 125,5. Kích thước danh nghĩa.

Kích thước danh nghĩa là kích thước mà dựa vào chức năng của chi tiết xác định được sau khi đã tính toán đảm bảo các thông số kỹ thuật như độ cứng, độ bền. sau đó được quy tròn về phía lớn lên theo giá trị của dãy số kích thước tiêu chuẩn. Ký hiệu: - Chi tiết lỗ: DN - Chi tiết trục: dN Hình 1.1: Kích thước danh nghĩa a - Chi tiết trục, b - Chi tiết lỗ Ví dụ: Khi tính toán người thiết kế xác đinh được kích thước xác định được kích thước của chi tiết là 35,785; đối chiếu với bảng tiêu chuẩn chọ kích thước là 36mm. Kích thước 36mm này là kích thước danh nghĩa của chi tiết.

Việc lựa chọn các kích thước danh nghĩa của chi tiết theo tiêu chuẩn nhằm giảm bớt số loại, kích cỡ của các chi tiết và sản phẩm, do đó cũng giảm được số loại, kích cỡ của trang bị công nghệ như dụng cụ cắt, dụng cụ đo. Số loại giảm thì sản lượng sẽ tăng, vì vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao. Kích thước danh nghĩa được ghi trên bản vẽ và dùng làm gốc để tính toán các sai lệch, kích thước danh nghĩa của bề mặt lắp ghép chung cho các chi tiết tham gia lắp ghép. Kích thước thực.

Kích thực là kích thước nhận được từ kết quả đo chi tiết với sai số cho phép. Ký hiệu: : - Chi tiết lỗ: Dt - Chi tiết trục: dt Ví dụ: Khi đo kích thước đường kính trục bằng panme có giá trị vạch chia là 0,01 mm kết quả đo nhận được là 25,97 mm thì kích thước thực của trục là dt = 25.97 mm với sai số cho phép là  0. Khi gia công không thể đạt được kích thước thực hoàn toàn đúng như kích thước danh nghĩa. Sai lệch giữa kích thước thực và kích thước thiết kế phụ thuộc vào nhiều yếu tố: độ chính xác của máy, dao, dụng cụ lắp, dụng cụ đo kiểm, trình độ tay nghề của người thợ.Miền sai lệch cho phép của kích thước thực so với kích thước danh nghĩa phụ thược vào mức độ chính xác yêu cầu và tính chất lắp ghép của chi tiết.

Kích thước giới hạn. Kích thước giới hạn là hai kích thước giới hạn một khoảng nào đó mà kích thước của các chi tiết chế tạo yêu cầu phải nằm trong khoảng đó thì chi tiết mới đạt yêu cầu. Để xác định phạm vi cho phép của sai số chế tạo kích thước, người ta quy định hai kích thước giới hạn và được ký hiệu như sau: - Kích thước giới hạn lớn nhất của lỗ và trục: Dmax, dmax - Kích thước giới hạn nhỏ nhất của lỗ và trục: Dmin, dmin Kích thực nằm trong phạm vi cho phép ấy thì đạt yêu cầu, chi tiết có kích thước đạt yêu cầu khi kích thước thực của nó thoả mãn điều kiện bất đẳng thức sau: dmin  dt  dmax 1. Sai lệch giới hạn.

Sai lệch giới hạn là sai lệch của các kích thước giới hạn so với kích thước danh nghĩa. - Sai lệch giới hạn lớn nhất hay sai lệch giới hạn trên: là hiệu đại số giữa các kích thước giới hạn lớn nhất và kích thước danh nghĩa, ký hiệu là es đối với chi tiết trục và ES đối với chi tiết lỗ. ES = Dmax - DN es = dmax - dN - Sai lệch giới hạn nhỏ nhất hay sai lệch giới hạn dưới: là hiệu đại số giữa các kích thước giới hạn nhỏ nhất và kích thước danh nghĩa, ký hiệu là ei đối với chi tiết trục và EI đối với chi tiết lỗ EI = Dmin - DN ei = dmin - dN Sai lệch giới hạn có thể có giá trị âm, dương và bằng không. Khi kích thước giới hạn bằng kích thước danh nghĩa thì sai lệch bằng không, nên đường biểu thị vị trí kích thước danh nghĩa còn gọi là đường không (đường “0”).

Sai lệch giới hạn của chi tiết trục (a, b) và chi tiết lỗ (c, d) Ngoài sai lệch giới hạn TCVN 2244 - 77 còn qui định sai lệch thực và sai lệch cơ bản. Sai lệch thực là hiệu đại số giữa kích thước thực và kích thước danh nghĩa. Sai lệch cơ bản là một trong hai sai lệch (trên hoặc dưới) được dùng để xác định vị trí của miền dung sai so với đường “0” (đường biểu thị vị trí kích thước danh nghĩa)trong tiêu chuẩn này quy định sai lệch gần với đường “0” là sai lệch cơ bản. Sai lệch giới hạn ký hiệu trên bản vẽ được ghi bên phải kích thước danh nghĩa, sai lệch trên ghi ở trên, sai lệch dưới ghi ở dưới, sai lệch bằng 0 không ghi.

Trong bảng tiêu chuẩn dung sai thì sai lệch tính bằng đơn vị micrômét (m). Ví dụ: Một chi tiết trục có kích thước danh nghĩa dN = 50mm; kích thước giới hạn lớn nhất dmax = 50,055mm; kích thước giới hạn nhỏ nhất dmin = 49,985mm. Tính trị số sai lệch giới hạn trên, sai lệch giới hạn dưới. Bài giải : - Sai lệch giới hạn trên của trục: es = dmax – dN = 50,055 - 50 = 0,055mm - Sai lệch giới hạn dưới của trục: ei = dmin – dN = 49,985 - 50 = - 0,015mm Trên bản vẽ thường không nghi kích thước giới hạn lớn nhất, kích thước giới hạn nhỏ nhất mà ghi kích thước danh nghĩa và các sai lệch giới hạn.

Trong thí dụ trên kích thước gia công của chi tiết trục được ghi trên bản vẽ là: Như vậy nghĩa là: - Sai lệch giới hạn trên là + 0,055 mm - Sai lệch giới hạn dưới là - 0,015 mm 1. Khi gia công, kích thước thực được phép sai khác so với kích thước danh nghĩa trong phạm vi giữa hai kích thước giới hạn. Phạm vi sai cho phép đó của chi tiết gọi là dung sai. Dung sai là hiệu số giữa kích thước giới hạn lớn nhất và nhỏ nhất hoặc là hiệu số giữa sai lệch giới hạn trên và sai lệch giới hạn dưới.

Dung sai ký hiệu là T và được tính theo công thức sau: - Đối với chi tiết lỗ : TD =Dmax - Dmin TD = ES - EI - Đối với chi tiết trục: Td = dmax - dmin Td = es – ei ITD ITd dmax Dmin Dmax dmin Hình 1. Kích thước giới hạn và dung sai Cần chú ý: Kích thước giới hạn lớn nhất bao giờ cũng lớn hơn kích htuwowcs giới hạn nhỏ nhất vì thế dung sai luôn luôn có giá trị dương và biểu hiện phạm vi cho phép của sai số kích thước. Giá trị dung sai càng nhỏ thì yêu cầu độ chính xác kích thước càng cao và ngược lại nếu giá trị dung sai càng lớn thì yêu cầu độ chính xác kích thước càng thấp. Vì vậy dung sai đặc trưng cho độ chính xác yêu cầu của kích thước hay còn gọi là độ chính xác thiết kế.

Ví dụ: Biết kích thước của chi tiết lỗ là  50 00,,020 041 - Tính các kích thước giới hạn và dung sai. - Kích thực của lỗ sau khi gia công đo được là Dt =  49,950 mm, hỏi chi tiết lỗ đã gia công có đạt yêu cầu không? Bài giải Kích thước giới hạn lớn nhất của lỗ là: Dmax = DN + ES = 50 + 0,020 = 50,020 (mm) Kích thước giới hạn nhỏ nhất của lỗ là: Dmin = DN + EI = 50 - 0,041 = 49,959 (mm) Dung sai của lỗ: TD = ES - EI = 0,020 - (- 0,041) = 0,061 (mm) Chi tiết lỗ đạt yêu cầu khi kích thước thực của nó thoả mãn bất đẳng thức Dmax  Dt  Dmin Ta nhận thấy: Dmin = 49,959 (mm) > Dt = 49,950 (mm) Vậy chi tiết lỗ đã gia công không đạt yêu cầu. LẮP GHÉP VÀ CÁC LOẠI LẮP GHÉP 1. Khái niệm về lắp ghép.

Lắp ghép là sự phối hợp giữa các chi tiết máy với nhau. Các chi tiết máy chỉ có ý nghĩa khi chúng phối hợp với nhau, ví dụ như đai ốc vặn chặt vào bu lông hoặc pittông trong xilanh thì tạo thành mối ghép. Trong các lắp ghép có những bề mặt và những kích thước mà dựa theo chúng các chi tiết phối hợp với nhau gọi là bề mặt lắp ghép và kích thước lắp ghép. Bề mặt lắp ghép được chia làm hai loại: bề mặt bao và bề mặt bị bao.

Bề mặt bao là bề mặt trong như bề mặt rãnh, lỗ .; bề mặt bị bao là bề mặt ngoài như bề mặt trục, bề mặt con trượt, bề mặt của then,. Hai chi tiết lắp ghép sẽ có chung một kích thước danh nghĩa gọi là kích thước danh nghĩa của lắp ghép.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ