chương 1 Trên thế giới khá nhiều nghiên cứu đã chứng minh sử dụng thông tin trên báo cáo giúp dự đoán YKKT. Các thông tin này bao gồm thông tin tài chính (tỷ số tài chính) và phi tài chính. Tại Việt Nam, một số nghiên cứu thực nghiệm cũng đưa ra được kết quả tương tự, minh chứng cho mối liên hệ giữa các tỷ số tài chính và phi tài chính có tác động phân biệt loại YKKT và dự đoán YKKT. Tuy nhiên, số lượng nghiên cứu về chủ đề này tại Việt Nam còn khá khiêm tốn.
Do vậy tác giả đã định hướng và lựa chọn mô hình dự đoán cho nghiên cứu này. 123doc 10 Chương tiếp theo, tác giả sẽ đề cập đến những cơ sở lý thuyết được vận dụng trong nghiên cứu. 123doc 11 CHƯƠNG 2.1 Ý KIẾN KIỂM TOÁN.1 Kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến kiểm toán.1 Kiểm toán báo cáo tài chính. Kiểm toán BCTC là quá trình các KTV tiến hành kiểm tra và đi đến xác nhận về tính trung thực, hợp lý và tính tuân thủ các quy định của chuẩn mực đối với các thông tin được trình bày trên BCTC của các đơn vị được kiểm toán.
Mục đính của kiểm toán BCTC là nhằm gia tăng độ tin cậy cho người sử dụng BCTC. Thông qua quá trình kiểm tra và xác nhận ý kiến rằng BCTC có được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC hay không. Kiểm toán BCTC được thực hiện theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, chuẩn mực và các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan sẽ giúp KTV hình thành YKKT đó.2 Ý kiến kiểm toán. Ý kiến KTV là kết quả cuối cùng của cuộc kiểm toán, được KTV đưa ra trong BCKiT nhằm xác nhận về tính trung thực và hợp lý cũng như tính tuân thủ chuẩn mực và các quy định pháp luật có liên quan của các BCTC.
Ý kiến KTV chỉ cung cấp cho người sử dụng BCKiT sự đảm bảo hợp lý và làm gia tăng sự tin cậy của BCTC. Do đó, người sử dụng BCKiT không thể cho rằng ý kiến kiểm toán là sự đảm bảo về khả năng DN tồn tại trong tương lai hay đánh giá về năng lực điều hành của bộ máy quản lý DN có hiệu quả hay không.2 Các dạng ý kiến kiểm toán. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam: Ý kiến kiểm toán bao gồm các dạng sau: - Ý kiến chấp nhận toàn phần. - Ý kiến không phải chấp nhận toàn phần.
+ Ý kiến kiểm toán trái ngược. + Ý kiến kiểm toán ngoại trừ. + Từ chối đưa ra ý kiến. 123doc 12 - Ý kiến có đoạn nhất mạnh và đoạn về vấn đề khác.
Ý kiến chấp nhận toàn phần: “Kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến kiểm toán dạng chấp nhận toàn phần khi kiểm toán viên kết luận rằng báo cáo tài chính được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng. Ý kiến không phải chấp nhận toàn phần: thuộc dạng ý kiến này, có 3 loại: Ý kiến ngoại trừ: “Kiểm toán viên phải trình bày “ý kiến kiểm toán ngoại trừ” khi dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp đã thu thập được, kiểm toán viên kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, có ảnh hưởng trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với báo cáo tài chính; hoặc kiểm toán viên không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán, nhưng kiểm toán viên kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với báo cáo tài chính. Ý kiến trái ngược: “Kiểm toán viên phải trình bày “ý kiến kiểm toán trái ngược” khi dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp đã thu thập được, kiểm toán viên kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, có ảnh hưởng trọng yếu và lan tỏa đối với báo cáo tài chính. Từ chối đưa ra ý kiến: “Kiểm toán viên phải từ chối đưa ra ý kiến khi kiển toán viên không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán và kiểm toán viên kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu và lan tỏa đối với báo cáo tài chính.
Trong một số rất ít trường hợp liên quan đến nhiều yếu tố không chắc chắn, kiểm toán viên phải từ chối đưa ra ý kiến khi mặc dù đã thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp liên quan đến từng yếu tố không chắc chắn riêng biệt nhưng kiểm toán viên vẫn kết luận rằng không thể đưa ra ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính do những ảnh hưởng tương tác có thể có của những yếu 123doc 13 tố không chắc chắn và những ảnh hưởng lũy kế của những yếu tố này đến báo cáo tài chính. Ý kiến có đoạn nhất mạnh và đoạn vấn đề khác: “Nếu kiểm toán viên thấy cần phải thu hút sự chú ý của người sử dụng đối với một vấn đề đã được trình bày hoặc thuyết minh trong báo cáo tài chính, mà theo xét đoán của kiểm toán viên, vấn đề đó là đặc biệt quan trọng để người sử dụng hiểu được báo cáo tài chính thì kiểm toán viên phải trình bày thêm đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” trong báo cáo kiểm toán, để thể hiện là kiểm toán viên đã thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp cho thấy vấn đề đó không bị sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính. Thêm vào đó, “[…] nếu kiểm toán viên thấy cần phải trao đổi về một vấn đề khác ngoài các vấn đề đã được trình bày hoặc thuyết minh trong báo cáo tài chính, mà theo xét đoán của kiểm tooán viên, vấn đề khác đó là thích hợp để người sử dụng hiểu rõ hơn về cuộc kiểm toán, về trách nhiệm của kiểm toán viên hoặc về báo cáo kiểm toán, đồng thời pháp luật và các quy định cũng không cấm việc này thì kiểm toán viên phải trình bày về vấn đề đó trong báo cáo kiểm toán, với tiêu đề “Vấn đề khác” hoặc “Các vấn đề khác”. Trong đề tài này, YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần bao gồm: ý kiến ngoại trừ, ý kiến trái ngược và từ chối đưa ra ý kiến.
Theo quy định của chuẩn mực kiểm toán Quốc tế: Theo ISA 700, ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính bao gồm hai dạng chính: - Ý kiến chấp nhận toàn phần (Unqualified opinion): được trình bày trong trường hợp, BCTC không chứa đựng các sai sót trọng yếu, việc trình bày BCTC là trung thực và hợp lý, tuân thủ các quy định liên quan. Ngoài ra, ý kiến chấp nhận toàn phần có thể bao gồm đoạn nhấn mạnh để là sáng tỏ một vấn đề nhưng không ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán. - Ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần (Qualified opinion): được trình bày trong trường hợp, BCTC được kiểm toán có chứa đựng sai sót trọng yếu, hoặc kiểm toán viên bị giới hạn về phạm vi kiểm toán và sự giới 123doc 14 hạn này ảnh hưởng trọng yếu đến kết quả kiểm toán, hoặc có những bất đồng về những vấn đề quan trọng giữa kiểm toán viên và người quản lý đơn vị được kiểm toán làm ảnh hưởng đến kết quả kiểm toán.2 BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH.1 Khái niệm báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính: Là sự trình bày một cách hệ thống về các thông tin tài chính quá khứ, bao gồm các thuyết minh có liên quan, với mục đích công bố thông tin về tình hình tài chính và các nghĩa vụ của đơn vị tại một thời điểm hoặc những thay đổi trong một thời kỳ, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính.
Để thực sự trở thành công cụ quan trọng trong quản lý kinh tế, báo cáo tài chính phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản dưới đây: - Báo cáo tài chính phải được lập chính xác, trung thực, đúng mẫu biểu đã qui định, có đầy đủ chữ ký của những người có liên quan và phải có dấu xác nhận của cơ quan, đơn vị để đảm bảo tính pháp lý của báo cáo. - Báo cáo tài chính phải đảm bảo tính thống nhất về nội dung, trình tự và phương pháp lập theo quyết định của nhà nước, từ đó người sử dụng có thể so sánh, đánh giá hoạt động sản suất kinh doanh của doanh nghiệp qua các thời kỳ, hoặc giữa các doanh nghiệp với nhau.2 Vai trò của báo cáo tài chính. BCTC có vai trò quan trọng đối với công tác quản lý doanh nghiệp (DN) cũng như đối với các cơ quan chủ quản và các đối tượng quan tâm. Nó được thể hiện trong các vấn đề sau: - BCTC là căn cứ quan trọng trong việc phân tích, nghiên cứu, phát hiện những khả năng tiềm tàng và là căn cứ quan trọng đề ra các quyết định về quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) hoặc đầu tư của chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai của DN.
123doc 15 - BCTC là những báo cáo được trình bày hết sức tổng quát, phản ánh một cách tổng hợp nhất về tình hình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thành tài sản, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh trong kỳ của DN. - BCTC còn là những căn cứ quan trọng để xây dựng các kế hoạch kinh tế – kỹ thuật, tài chính của DN là những căn cứ khoa học để đề ra hệ thống các biện pháp xác thực nhằm tăng cường quản trị DN không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả SXKD, tăng lợi nhuận cho DN. - BCTC cung cấp những thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu để đánh giá tình hình và kết quả hoạt động SXKD, thực trạng tài chính của DN trong kỳ hoạt động đã qua, giúp cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động nguồn vốn vào SXKD của DN. Chính vì vậy, BCTC là đối tượng quan tâm của các nhà đầu tư, Hội đồng quản trị DN, người cho vay, các cơ quan quản lý cấp trên và toàn bộ cán bộ, công nhân viên của DN.3 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 2.1 Thông tin trên báo tài chính.