phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn đƣợc kết cấu làm 3 chƣơng: - CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ BÁO NHÂN LỰC CNTT VÀ XÂY DỰNG CPĐT Ở VIỆT NAM - CHƢƠNG 2. NGUỒN NHÂN LỰC CNTT VÀ MỤC TIÊU, NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN CPĐT CỦA BỘ NỘI VỤ - CHƢƠNG 3. NHÂN LỰC CNTT PHỤC VỤ XÂY DỰNG CPĐT Ở BỘ NỘI VỤ ĐẾN NĂM 2025 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ BÁO NHÂN LỰC CNTT VÀ XÂY DỰNG CPĐT Ở VIỆT NAM Dự báo luôn là một đề khó. Dự báo nguồn nhân lực trong mỗi ngành nghề lại càng khó hơn bởi sự biến động của các yếu tố kinh tế - xã hội, các xu hƣớng xã hội, sự phát triển của khoa học - công nghệ và chính sách của mỗi quốc gia v. Việc dự báo nhu cầu nguồn nhân lực CNTT phục vụ cho cơ quan nhà nƣớc nói chung và phục vụ xây dựng CPĐT nói riêng còn gặp những khó khăn khác do đây là nguồn nhân lực chất lƣợng cao, có sự chuyển dịch nhanh chóng giữa khu vực công và tƣ. Do đó cần làm rõ một số nội dung làm cơ sở lý luận đối với việc dự báo nhu cầu nhân lực CNTT.
Một số khái niệm cơ bản liên quan 1. Dự báo Dự báo theo cách hiểu thông thƣờng là báo cho biết trƣớc những việc có khả năng xảy ra. Dự báo theo thuật ngữ có gốc Hy Lạp “rcpóyvraơi^” (Prognosis) có nghĩa là nói trƣớc, là sự báo trƣớc về tƣơng lai bằng các phƣơng pháp nào đó hoặc bằng chính các kết quả dự đoán. Thực tế trong quá trình phát triển của tƣ duy con ngƣời, dự báo có thể coi là một năng lực mang tính tự thân khi con ngƣời tiếp xúc với môi trƣờng tự nhiên và bộ não con ngƣời bắt đầu thực hiện các thao tác tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, phân tích lặp đi lặp lại và có sự kiểm thử.
Về nguyên tắc khi có thêm đƣợc càng nhiều thông tin, dữ liệu về bản chất của sự vật, hiện tƣợng, hoạt động dự báo của con ngƣời ngày càng chính xác hơn. Hoạt động dự báo dần có những nguyên tắc và phƣơng pháp mang tính khoa học. Xuất phát bởi mục tiêu trong tƣơng lai, hoạt động dự báo đƣợc lập ra nhằm xác định triển vọng phát triển của đối tƣợng dự báo hoặc một quá trình cụ thể nào đó có tác động ảnh hƣớng tới mục tiêu đã định. Dự báo là hoạt động có căn cứ, những có tính xác suất.
Khoa học càng phát triển, kiến thức, thông tin con ngƣời tích lũy ngày càng nhiều hơn và đƣợc phân tích, tính toán, mô phỏng nhanh hơn nhờ hệ thống máy tính và các phƣơng pháp dự đoán khoa học hiện đại giúp xác suất ngày càng nhỏ hơn. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên chúng ta cũng không thể phủ nhận đƣợc những năng lực dự báo xuất phát từ tƣ duy của một cá nhân về một tƣơng lai rất xa, tách biệt với không gian, điều kiện địa lý – nhân văn mà ngƣời đó sinh sống nhƣng kết quả dự báo vô cùng chính xác (trƣờng hợp nhƣ của nhà tiên tri Vanga, Noutra Damus, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm v.) thông qua một loại các phƣơng pháp dự báo có gì đó mang tính huyền bí nhƣ qua quẻ bói, soi cầu, rút lá bài v. Về cơ bản, có những dự báo không chỉ mang tính chất định tính mà còn mang tính định lƣợng qua con số cụ thể. Các hiện tƣợng cần dự báo luôn phụ thuộc vào sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của những nhân tố cả bên trong và bên ngoài hệ thống.
Do đó, dự báo trƣớc hết cần dựa trên cơ sở tổng hợp, phân tích nhiều nhất có thể các nhân tố tác động, trong đó lƣu ý nhiều hơn đến các nhân tố cơ bản nhất có tác động đến đối tƣợng cần dự báo để phân tích. Trong luận văn này, dự báo được xác định là hoạt động khoa học nhằm thu thập, phân tích, xử lý các dữ liệu liên quan đến sự phát triển của sự vật, hiện tượng qua đó cho phép xác định đƣợc các biến thể của sự vật hiện tƣợng trong tƣơng lai với xác suất nhỏ nhất có thể. Đây chính là sự vận dụng lý luận phản ánh, lý luận nhận thức Mác - Lênin và việc ứng dụng các khoa học khác vào quá trình dự báo. Nhu cầu Từ lâu nhu cầu đã là đối tƣợng nghiên cứu của các ngành khoa học nghiên cứu sinh học - xã hội, kinh tế.
Ở góc độ sinh học – xã hội nhu cầu đƣợc coi là một hiện tƣợng tâm lý của con ngƣời; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con ngƣời về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trƣờng sống, đặc điểm tâm sinh lý, mỗi ngƣời có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu thúc đẩy con ngƣời hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con ngƣời càng cao.
Ở góc độ kinh tế, nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣời cảm nhận đƣợc, đong đo quy kết ra đƣợc. Trong kinh tế học, nhu cầu thƣờng đƣợc hiểu là mong muốn tiêu dùng hay còn đƣợc gọi là sở thích tiêu dùng [Xem thêm 26]. Trong các lý thuyết về nhu cầu nổi lên thuyết Tháp nhu cầu của Maslow (tiếng Anh: Maslow's hierarchy of needs) đƣợc nhà tâm lý học Abraham Maslow đƣa ra vào năm 1943. Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con ngƣời đƣợc chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs).
Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải đƣợc thoả mãn trƣớc khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn. Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn đƣợc thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dƣới (phía đáy tháp) đã đƣợc đáp ứng đầy đủ. 5 tầng trong Tháp nhu cầu của Maslow: Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" (physiological) - thức ăn, nƣớc uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi. Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản đƣợc đảm bảo.
Tầng thứ ba: Nhu cầu đƣợc giao lƣu tình cảm và đƣợc trực thuộc (love/belonging) - muốn đƣợc trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy. Tầng thứ tƣ: Nhu cầu đƣợc quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm giác đƣợc tôn trọng, kính mến, đƣợc tin tƣởng. Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) - muốn sáng tạo, đƣợc thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có đƣợc và đƣợc công nhận là thành đạt. Đây là một trong những lý thuyết quan trọng nhất của quản trị kinh doanh, đặc biệt là các ứng dụng cụ thể trong quản trị nhân sự và quản trị marketing [Xem thêm 28].
Thuyết nhu cầu của Maslow tiếp đƣợc một số học giả mở rộng, đặt biệt trong điều kiện phát triển của CNTT, một số học giả một nhu cầu rất đặc thù và có thể xếp thêm một tầng nữa trong tháp là nhu cầu internet. Nhƣ vậy hiện chƣa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu. Trong phạm vi nhận thức hiện tại có thể định nghĩa nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phân biệt nó với môi trƣờng sống [51]. Tuy nhiên, khi đặt trong môi trƣờng xã hội, xác định trạng thái thiếu hụt của cá thể ở đây là một cộng đồng, tổ chức xã hội thì nhu cầu chính là sự cần dùng mà cộng đồng, tổ chức xã hội đó phải tìm kiếm.
Nguồn nhân lực CNTT Theo quá trình phát triển có nhiều định nghĩa khác nhau về CNTT, từ đó cũng hình thành các khái niệm về nhân lực CNTT theo các giai đoạn. Trƣớc những năm 2000, CNTT đƣợc định nghĩa là tập hợp các phƣơng pháp khoa học, các phƣơng tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con ngƣời và xã hội [34]. CNTT là việc nghiên cứu, thiết kế, phát triển, triển khai, hỗ trợ và quản lý hệ thống thông tin dựa trên máy tính, đặc biệt là các ứng dụng phần mềm và phần cứng máy tính [47]. Và theo đó nhân lực CNTT đƣợc coi là lực lƣợng lao động thực hiện công việc nhƣ nghiên cứu, thiết kế, phát triển, ứng dụng, hỗ trợ và quản lý hệ thống thông tin dựa trên máy tính đặc biệt là những ứng dụng phần mềm và phần cứng máy tính [47].
Hiểu ở cấp độ rộng nhất, một công việc thuộc về ngành CNTT liên quan đến việc sáng tạo, cất giữ, trao đổi và/hoặc sử dụng thông tin thông qua các phƣơng tiện công nghệ. Cụ thể hơn, nó bao gồm các nghề nghiệp đòi hỏi việc thiết kế và phát triển các hệ thống phần cứng và phần mềm; cung cấp các hỗ trợ kỹ thuật cho các máy tính và hệ thống ngoại vi; nó tạo ra và quản trị các hệ thống mạng và các cơ sở dữ liệu” [48]. Đến nay, với sự phát triển của mình, CNTT đƣợc định nghĩa là việc sử dụng các công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ và các công nghệ tích hợp vào việc tạo ra, xử lý, truyền dẫn thông tin, lƣu trữ, khai thác thông tin từ đó. CNTT phân chia cơ bản thành 5 chuyên ngành phổ biến là khoa học máy tính, kỹ thuật máy tính, hệ thống thông tin, mạng máy tính truyền thông, kỹ thuật phần mềm.
Do đó, nguồn nhân lực CNTT đƣợc đề cập một cách rộng hơn (bao 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gồm nhân lực làm việc trong các doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp công nghiệp CNTT; nhân lực cho ứng dụng CNTT; nhân lực cho đào tạo CNTT, điện tử, viễn thông và ngƣời dân sử dụng các ứng dụng CNTT) [Theo 9]. Trong nghiên cứu này, nguồn nhân lực CNTT đƣợc hiểu là lực lƣợng lao động làm công tác chuyên môn về CNTT theo 05 chuyên ngành phổ biến (như đã nêu ở trên) và đội ngũ lãnh đạo CNTT, giám đốc CNTT. Về đặc thù riêng của ngành CNTT, theo Nguyễn Hoàng Nhiên [25], nguồn nhân lực này có các đặc điểm chính là: - Trình độ Anh ngữ tốt. - Tƣ duy toán học tốt.