ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BÙI THANH THUY KHẢ NĂNG DỰ BÁO LO ÂU VÀ CĂNG THẲNG CỦA CÁC CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ TRONG VIỆC NUÔI CON LÀ TRẺ TỰ KỶ Ở CÁC BÀ MẸ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TP HỒ CHÍ MINH- 2023 ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN …………………………………………. BÙI THANH THUY KHẢ NĂNG DỰ BÁO LO ÂU VÀ CĂNG THẲNG CỦA CÁC CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ TRONG VIỆC NUÔI CON LÀ TRẺ TỰ KỶ Ở CÁC BÀ MẸ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành: Tâm Lý Học Lâm Sàng Mã số: 19831040236 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 1. Lê Thị Mai Liên TP HỒ CHÍ MINH- 2023 MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN. 4 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.
7 DANH MỤC BẢNG. 8 DANH MỤC BIỂU ĐỒ. Lý do chọn đề tài. Mục đích, nhiệm vụ và đối tƣợng nghiên cứu.
Khách thể nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu. Ý nghĩa, đóng góp của đề tài. 13 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU.
Các khái niệm công cụ. Chiến lƣợc ứng phó và phân loại chiến lƣợc ứng phó. Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới .Tổng quan các công trình nghiên cứu ở Việt Nam. 37 CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU.
Thiết kế nghiên cứu. Khách thể nghiên cứu. Công cụ nghiên cứu. Quy trình nghiên cứu.
Đạo đức nghiên cứu. Kế hoạch phân tích dữ liệu. 48 CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Kết quả phân tích các đặc điểm của mẫu nghiên cứu.
Kết quả về mức độ căng thẳng, lo âu và các chiến lƣợc ứng phó của các bà mẹ có con tự kỷ. Kết quả tƣơng quan giữa các chiến lƣợc ứng phó và mức độ lo âu, căng thẳng ở các bà mẹ có con tự kỷ. Kết quả dự báo căng thẳng, lo âu của các chiến lƣợc ứng phó ở các bà mẹ có con tự kỷ. 59 CHƢƠNG 4: BÀN LUẬN.
Các biến nhân khẩu với tình trạng lo âu, căng thẳng ở các bà mẹ .Về tƣơng quan giữa chiến lƣợc ứng phó và tình trạng lo âu, căng thẳng 66 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 73 3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Thị Mai Liên - Giảng viên Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
Các dữ liệu và kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác. Tác giả luận văn Bùi Thanh Thuy 4 LỜI CẢM ƠN Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lòng kính trọng đến TS. Lê Thị Mai Liên vì sự hướng dẫn, định hướng và sự hỗ trợ to lớn mà cô đã dành cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này. Nhờ những kiến thức chuyên môn và sự đồng hành tận tâm, cô đã giúp tôi vượt qua những khó khăn và hoàn thiện luận văn này.
Tôi không thể không nhắc đến sự giúp đỡ và đóng góp quan trọng của các bạn bè đồng nghiệp đã đồng hành và động viên tôi trong suốt quá trình làm nghiên cứu. Những cuộc thảo luận, trao đổi ý kiến và những ý kiến đóng góp từ các bạn đã làm cho quá trình nghiên cứu trở nên thú vị và bổ ích hơn bao giờ hết. Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến những người mẹ đã đồng thuận tham gia nghiên cứu này. Sự hợp tác và đồng lòng của các người mẹ đã cung cấp những thông tin quý giá và dữ liệu cần thiết để tôi có thể tiến hành nghiên cứu một cách chi tiết và toàn diện.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn Cô, các bạn bè đồng nghiệp và những người mẹ đã đồng thuận tham gia nghiên cứu này. Sự hỗ trợ và đóng góp của mọi người đã tạo nên thành công của luận văn này. Trân trọng, BÙI THANH THUY 5 TÓM TẮT Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về tự kỷ và tác động của nó đối với trẻ em, hiện vẫn còn rất ít thông tin về cách bố mẹ trải nghiệm việc nuôi dưỡng con tự kỷ và cách họ ứng phó với căng thẳng liên quan đến điều đó, đặc biệt là ở Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện trên 144 các bà mẹ đang chăm sóc và nuôi con được chẩn đoán là có RLPTK và hiện đang sinh sống tại Tp HCM.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng hai mô hình hồi quy phân cấp để kiểm tra khả năng dự đoán của bốn CLƯP khác nhau đối với mức độ căng thẳng và lo lắng, sau khi kiểm soát các biến liên quan đến tuổi, trình độ học vấn và thu nhập, trong số các bà mẹ Việt Nam có con được chẩn đoán mắc bệnh tự kỷ. Kết quả cho thấy rằng mô hình kết hợp, bao gồm cả các CLƯP và biến kiểm soát, có thể giải thích được trên 36% và 30% sự biến thiên của mức độ stress và lo lắng, tương ứng. Trong số các CLƯP được xem xét, "xao nhãng" và "rút lui" đã được xác định là những yếu tố dự báo đáng kể đối với mức độ căng thẳng. Tuy nhiên, chỉ có "rút lui" được tìm thấy có khả năng dự đoán đáng kể về mức độ lo lắng được báo cáo bởi các người tham gia nghiên cứu.
Nghiên cứu được thực hiện để đóng góp thêm những kiến thức về kinh nghiệm của phụ huynh và các CLƯP của họ trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng con Tự kỷ tại Việt Nam. Từ đó, cung cấp thêm cơ sở cho các chuyên gia y tế, chuyên viên can thiệp và các nhà hoạch định chính sách để phát triển các biện pháp can thiệp và hệ thống hỗ trợ nhằm đáp ứng các nhu cầu của phụ huynh. 6 ABSTRACT Abstract: Despite the growing body of research on autism spectrum disorder (ASD) and its impact on children, there remains a dearth of knowledge regarding the experiences of parents raising autistic children and their coping mechanisms, particularly in the context of Vietnam. The study was conducted on 144 mothers currently providing care and raising children diagnosed with Autism Spectrum Disorder (ASD) and residing in Ho Chi Minh City.
This study employs two hierarchical regression models to examine the predictive ability of four coping strategies on stress and anxiety levels among Vietnamese mothers whose children have been diagnosed with ASD, while controlling for age, education, and income. The findings indicate that the combined models, incorporating both the coping strategies and control variables, can account for over 36% and 30% of the variance in stress and anxiety levels, respectively. Among the coping strategies examined, "distraction” and “disengagement” emerged as significant predictors of stress. However, only “disengagement” was found to significantly predict anxiety reported by the participants.
The study was conducted to contribute additional knowledge about the experiences of parents and their coping strategies in the process of caring for and nurturing children with Autism Spectrum Disorder (ASD) in Vietnam. The aim was to provide a foundation for healthcare professionals, intervention specialists, and policymakers to develop intervention measures and support systems that meet the needs of parents. Keywords: Autism Spectrum Disorder (ASD), Coping strategies, Mothers, Stress, Anxiety, Ho Chi Minh City, Vietnam. 7 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT STT Từ viết tắt Nội dung viết tắt 1 ADHD Rối loạn tăng động giảm chú ý 2 Brief-COPE Thang đo về CLƯP (phiên bản rút gọn) 3 CLƯP Chiến lược ứng phó 4 DASS-21 Thang đo trầm cảm, lo âu và căng thẳng (phiên bản 21) 5 DASS-A Thang đo rầm cảm, lo âu và căng thẳng-tiểu thang đo lo âu 6 DASS-S Thang đo trầm cảm, lo âu và căng thẳng-tiểu thang đo căng thẳng 7 RLPTK Rối loạn phổ tự kỷ 8 Tp HCM Thành phố Hồ Chí Minh 8 DANH MỤC BẢNG Bảng Nội dung Bảng 1 Các nhóm CLƯP theo Benson (2010) Bảng 2 Một số đặc điểm mẫu nghiên cứu Bảng 3 Trình độ học vấn và thu nhập gia đình Bảng 4 Thực trạng lo âu, căng thẳng và CLƯP ở các bà mẹ có con tự kỷ Bảng 5 Tương quan giữa các CLƯP và mức độ căng thẳng, lo âu ở các bà mẹ có con tự kỷ Bảng 6 So sánh giữa các CLƯP của nhóm bà mẹ có mức căng thẳng và mức căng thẳng cao Bảng 7 So sánh giữa các CLƯP của nhóm bà mẹ có mức căng thẳng và mức căng thẳng cao Bảng 8 Kết quả dự báo mức độ căng thẳng của các CLƯP Bảng 9 Kết quả dự báo mức độ lo âu của các CLƯP 9 DANH MỤC BIỂU ĐỒ STT Biểu đồ Nội dung 1 Biểu đồ 1 Tình trạng hôn nhân 2 Biểu đồ 2 Người hỗ trợ chăm sóc trẻ 10 DẪN NHẬP 1.
Lý do chọn đề tài Theo Tổ chức Y tế thế giới: “Rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) là một dạng khuyết tật phát triển kéo dài suốt đời, thường được thể hiện ra ngoài trong 3 năm đầu đời. Tự kỷ là do một rối loạn thần kinh ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của não bộ gây nên, chủ yếu ảnh hưởng đến trẻ em và người lớn ở nhiều quốc gia, không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc điều kiện kinh tế - xã hội” (WHO, 2018). Hay theo Nguyễn Thanh Liêm ước tính: “Cứ 1 triệu trẻ tự kỷ thì có 8 triệu người bị ảnh hưởng trực tiếp” và cho thấy một trong những người bị ảnh hưởng trực tiếp đó là bố hoặc mẹ của trẻ (Nguyễn, 2019). Trên thế giới, từ những thập niên 90 cho đến nay ngày càng gia tăng các nghiên cứu tìm hiểu về những trải nghiệm của người chăm sóc trẻ có RLPTK và mối liên hệ đó với những căng thẳng, lo âu.
Cụ thể, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người chăm sóc trẻ mắc RLPTK có tỉ lệ lo âu, căng thẳng, trầm cảm và các vấn đề sức khỏe tâm thần khác cao hơn; cuộc sống của họ có chất lượng kém hơn so với nhóm phụ huynh đang chăm sóc trẻ phát triển bình thường hoặc trẻ có chứng rối loạn khác như hội chứng Down hay ADHD. Bên cạnh đó, cũng có nhiều nghiên cứu được thực hiện để khám phá các vấn đề liên quan đến trẻ tự kỷ và phụ huynh của trẻ em mắc chứng tự kỷ, như trải nghiệm cảm xúc của họ, các CLƯP mà họ sử dụng trong quá trình nuôi dạy và chăm sóc con (Robbins & et al, 1991; Hastings, 2003; Tomanik & et al, 2004; Abbeduto & et al, 2004; Lecavalier & et al, 2006; Osborne & et al, 2008; Hoffman & et al, 2009; Miodrag & Hodapp, 2010; Hayes & Watson, 2013; Lai & et al, 2015; Bonis, 2016; Cohrs & Leslie, 2017).