CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Kiệt sức từ lâu đã được công nhận là một hiện tượng quan trọng của xã hội và có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe thể chất và hiệu quả làm việc của người lao động. Mục tiêu của phần này là cung cấp các tài liệu nghiên cứu trên thế giới về kiệt sức, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý học. Kiệt sức và người thực hành tâm lý Kiệt sức nghề nghiệp đã được chứng minh có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả thực hành tâm lý lâm sàng (Maslach, 2001). Nhà tham vấn trị liệu sẽ xuất hiện cảm giác còn rất ít năng lượng, gần như cạn kiệt về mặt cảm xúc khi làm việc với thân chủ.
Họ có ít lòng trắc ẩn hơn, trở nên thờ ơ và có thể đổ lỗi cho thân chủ về những vấn đề trong trị liệu. Ngoài ra kiệt sức còn khiến nhà trị liệu cảm thấy bất lực trong việc hỗ trợ thân chủ và từ đó ảnh hưởng đến chất lượng liệu pháp mà thân chủ nhận được (Brice, 2001). Tuy nhiên kiệt sức thường bị nhầm lẫn với căng thẳng hay trầm cảm bởi vì kiệt sức là một tình trạng mãn tính, phát triển chậm và thường khó nhận biết trong giai đoạn đầu. Storlie (1979) đã phát biểu rằng: “Kiệt sức là một quá trình ngấm ngầm đến mức khó tìm ra căn nguyên chính xác” (tr.
Trong đó, những dấu hiệu cảnh báo sớm thường bị bỏ qua, chỉ khi người lao động không còn khả năng quản lý căng thẳng, trở nên kiệt quệ và nghỉ việc thì người khác mới chú ý đến (Maslach, 2001). Để hiểu rõ hơn về bản chất của kiệt sức, người nghiên cứu cung cấp những định nghĩa trong các nghiên cứu về “kiệt sức” và đồng thời làm rõ cụm từ “người thực hành tâm lý” mà nghiên cứu đang sử dụng trong phần trình bày dưới đây. 14 Khái niệm kiệt sức Hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồng ý với định nghĩa kiệt sức (tiếng anh là Burnout) là một hội chứng tâm lý để phản ứng lại với các tác nhân gây căng thẳng mãn tính trong công việc (Simpson, 2018). Meir (1983) cho rằng kiệt sức là một trạng thái cạn kiệt năng lượng khi các cá nhân nhận được ít phần thưởng, thiếu sự củng cố có giá trị so với những nỗ lực mà họ đã bỏ ra.
Định nghĩa của Meir cũng có phần tương đồng với khái niệm mà Freudenberger (1977) đã đề cập về việc kiệt sức là trạng thái mệt mỏi, thất vọng khi người lao động nhận được ít thành quả hơn những gì họ đã mong đợi và nỗ lực thực hiện. Theo Maslach và Jackson (1981), kiệt sức là một hiện tượng tâm lý, xuất hiện khi có một căng thẳng kéo dài trong công việc. Koolhaas (2011) cũng đồng quan điểm, cho rằng mức độ căng thẳng trong công việc vượt quá khả năng đối phó của một cá nhân trong một thời gian dài có thể dẫn đến kiệt sức. Demerouti và cộng sự (2010) cho rằng khái niệm kiệt sức bao gồm hai khía cạnh: (1) kiệt sức, trạng thái căng thẳng về thể chất, nhận thức, tình cảm trong một khoảng thời gian dài và (2) từ bỏ công việc, đề cập đến sự rút lui khỏi công việc hiện tại của một người.
Khái niệm “kiệt sức” sử dụng trong nghiên cứu này dựa trên khung lý thuyết của Maslach. Đây là khung lý thuyết đa chiều về mô hình ba yếu tố của kiệt sức và được xem là khung lý thuyết chiếm ưu thế trong các lĩnh vực nghiên cứu về kiệt sức (Maslach, 2001). Kiệt sức được Maslach (2001) định nghĩa là “một hội chứng tâm lý liên quan đến những phản ứng kéo dài với các yếu tố căng thẳng trong môi trường làm việc” (tr. Kiệt sức bao gồm ba yếu tố: (1) kiệt sức về mặt cảm xúc (emotinal exhaustion), cảm giác cạn kiệt năng lượng, (2) phi cá nhân hóa (depersonalization), một phản ứng hoài nghi, vô cảm trước những khó khăn của thân chủ và (3) thành tích cá nhân(personal accomplishment), một xu hướng đánh giá bản 15 thân tiêu cực và tin rằng mình không có đủ khả năng trong các tình huống liên quan đến công việc (Maslach, 1986).
Khái niệm người thực hành tâm lý Trên thế giới, ngành tâm lý học có thể được ứng dụng vào việc nghiên cứu hoặc thực hành với nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau như giáo dục, truyền thông, nhân sự, sức khỏe tâm thần, v. Trong lĩnh vực thực hành trợ giúp sức khỏe tinh thần cho con người, các nhà tâm lý học có những chức danh khác nhau tùy thuộc vào bằng cấp đào tạo, chứng chỉ hành nghề như: nhà tâm lý lâm sàng, nhà tham vấn tâm lý, nhà trị liệu tâm lý, nhà tâm lý học đường và nhà phân tâm học. Tất cả các chức danh này đều có thể làm công việc tham vấn hay trị liệu tâm lý (Neukrug, 2021). Trong những năm qua, đã có rất nhiều quan điểm so sánh giữa tham vấn (counseling) và trị liệu tâm lý (psychotherapy), tuy nhiên cả 2 thuật ngữ này không có sự khác biệt nhiều, đều được dùng để mô tả cách thức tiếp cận hỗ trợ cho các cá nhân có rối nhiễu tâm trí (Williamson, 1950).
Theo Patterson (1986), hai thuật ngữ này đều sử dụng cùng mô hình lý thuyết, chỉ khác nhau về mức độ và đều nhấn mạnh vào quá trình đồng hành, lắng nghe chú tâm, thấu cảm và nuôi dưỡng khả năng tự giúp và tự chịu trách nhiệm của thân chủ. Yếu tố dùng để phân biệt 2 thuật ngữ này là mức độ can thiệp, trong đó tham vấn tâm lý can thiệp ít chuyên sâu hơn so với trị liệu tâm lý (Neukrug, 2021). Tuy nhiên, nhìn chung các thuật ngữ tham vấn và trị liệu tâm lý có thể được chọn sử dụng các từ thay thế cho nhau (Corey, 2009). Tại Việt Nam hiện nay các cử nhân tâm lý học có thể làm việc tại các trung tâm tham vấn, bệnh viện, trường học, hoặc hành nghề tâm lý độc lập tại văn phòng cá nhân (Trần Thị Minh Đức, 2009).
Theo Quyết Định số 34/2020/QĐ -TTg Ban hành Danh mục nghề nghiệp Việt Nam, Nhà tâm lý học là danh xưng chung để chỉ những người nghiên cứu các hiện tượng tinh thần và hành vi của con người với các phân loại nhỏ hơn như Nhà tâm lý học lâm sàng, Nhà trị liệu tâm lý, Nhà tâm lý học đường, Nhà tâm lý học tổ chức, Nhà tâm lý học thể thao, 16 v. Các nhà tâm lý có thể tham gia vào quá trình giảng dạy, nghiên cứu hoặc thực hành lâm sàng. Từ đó cho thấy thuật ngữ “nhà tâm lý” vẫn còn khá rộng để mô tả chính xác nhóm khách thể của nghiên cứu. Do đó, trong bài nghiên cứu này, cụm từ “người thực hành tâm lý” được sử dụng để để mô tả những người đang thực hành công việc tham vấn tâm lý hoặc trị liệu tâm lý cho những người có khó khăn tâm lý, rối nhiễu tâm trí và có bằng cấp cử nhân tâm lý trở lên hoặc có các chứng chỉ trị liệu tâm lý hoặc các cá nhân thuộc Hội Tâm lý, Chi hội Tâm lý.
Ngoài ra cụm từ này nhằm phân biệt với những nhà tâm lý chỉ làm các công việc nghiên cứu và giảng dạy. Trong nghiên cứu, các cụm từ “ nhà tham vấn trị liệu”, “người thực hành tâm lý” có thể dùng thay thế cho nhau. Thực trạng nghiên cứu kiệt sức Từ lâu trên thế giới đã công nhận kiệt sức là một hiện tượng quan trọng của thời đại, kiệt sức như một vấn đề xã hội và trở thành trọng tâm nghiên cứu có hệ thống của các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực và đặc biệt phổ biến trong lĩnh vực y học, tâm lý học. Các nghiên cứu về kiệt sức trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng sẽ được trình bày trong phần sau.
Nghiên cứu kiệt sức trên thế giới Từ những năm 1970 ở Hoa Kỳ, thuật ngữ kiệt sức nghề nghiệp đã bắt đầu được dùng phổ biến ở những đối tượng làm việc trong ngành dịch vụ chăm sóc con người. Thuật ngữ này mô tả hiện tượng một người có khó khăn dẫn đến đứt gãy trong công việc của họ (Maslach, 2001). Các bài báo, bài tiểu luận và các nghiên cứu bắt đầu được triển khai, điển hình là nghiên cứu của bác sĩ tâm thần – nhà phân tâm học Mỹ J.Freudenberger trên đối tượng tình nguyện viên tại phòng khám sức khỏe tâm thần và nhân viên y tế chăm sóc cho bệnh nhân nghiện. Kiệt sức được định nghĩa trong một từ điển là “thất bại, hao mòn hoặc trở nên kiệt quệ do đòi hỏi quá mức về năng lượng, sức mạnh và nguồn lực” (Freudenberger, 17 1977, tr.
Freudenberger cho rằng tín hiệu cảnh báo quan trọng nhất của kiệt sức là việc người lao động có ít thành quả hơn những gì họ đã nỗ lực bỏ công thực hiện (Freudenberger, 1977b). Trong giai đoạn này, nhà tâm lý học xã hội Maslach cũng đã thực hiện các cuộc phỏng vấn nhân viên trong ngành chăm sóc sức khỏe, các chuyên gia y tế về những căng thẳng trong công việc của họ và thấy rằng những người bị kiệt sức có xu hướng mất đi sự quan tâm, tình cảm, lòng trắc ẩn với thân chủ của họ (Maslach, 1976). Maslach gọi “hội chứng kiệt sức về cảm xúc” (emotional exhaustion syndrome) là hiện tượng suy giảm mức độ hài lòng trong công việc và hiệu suất thấp trong công việc (Reiner & Hartshorne, 1982). Trong những năm 1980, các công trình nghiên cứu về kiệt sức mang tính thực nghiệm và hệ thống hơn so với giai đoạn đầu (Maslach và các tác giả khác, 2001).
Maslach và Jackson (1981) đã nói rằng căng thẳng lâu dài sẽ dẫn đến kiệt sức và phát triển thang đo Maslach Burount Inventory (MBI) để đo lường, đánh giá tình trạng kiệt sức. Thang đo này ban đầu được sử dụng trong các ngành dịch vụ con người sau đó được tạo ra các phiên bản sử dụng cho môi trường giáo dục. Đến những năm 1990, khái niệm kiệt sức được mở rộng cho nhiều ngành nghề khác như xã hội học, công tác xã hội, nhân sự, quản lý, văn thư, v. Các công cụ thống kê và phương pháp nghiên cứu ngày càng được cải tiến cho phép kiểm tra các mối quan hệ phức tạp liên quan đến kiệt sức (Maslach, 2001).
Hiện tượng kiệt sức trong các ngành nghề phục vụ con người đã trở thành một chủ đề đáng quan tâm trong những năm 1990 (Leiter & Harvie, 1996). Có nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng tình trạng kiệt sức tồn tại đáng kể trong nghề giúp đỡ (Maslach & Jackson, 1984). Trong một nghiên cứu của Webster và Hackett (1999) trên 151 nhân viên sức khỏe tâm thần ở phía Bắc California, đã báo cáo có khoảng 54% nhân viên bị kiệt sức.