CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Kết quả hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước đã mang lại cho Việt Nam nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người dân. Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển. Diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên (đạt ngưỡng thu nhập trung bình); đời sống nhân dân từng bước được cải thiện; đồng thời tạo ra nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân thật sự trở thành lực lượng quan trọng để thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Kinh tế - xã hội nước ta năm 2018 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại và tiềm ẩn yếu tố khó lường. Thương mại toàn cầu tăng chậm hơn dự báo do những thay đổi trong chính sách thương mại của Mỹ, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung ngày càng diễn biến phức tạp. Lạm phát toàn cầu những tháng đầu năm có xu hướng tăng cao hơn năm 2017 do giá năng lượng, đặc biệt là giá dầu bình quân tăng mạnh. Bên cạnh đó, căng thẳng thương mại giữa các nước lớn cùng với xu hướng gia tăng chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch có tác động đến sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam và các nước trong khu vực.
Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ kết quả tích cực trong năm 2017, nền kinh tế nước ta cũng đối mặt tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, tác động đến giá lương thực, thực phẩm, ảnh hưởng tới mục tiêu kiểm soát lạm phát; giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp. Từ một nền kinh tế có trình độ phát triển thấp, hội nhập với kinh tế toàn cầu với tốc độ như hiện nay cùng với những thay đổi chóng mặt của nền 4 kinh tế thế giới khiến các doanh nghiệp Việt Nam không tránh khỏi những bỡ ngỡ, sơ hở và thua thiệt. Những cơ hội và thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải là rất lớn, dẫn đến bên cạnh hàng loạt doanh nghiệp thành lập mới thì cũng có rất nhiều các doanh nghiệp bị đẩy đến bờ vực phá sản. Chỉ tính riêng trong năm 2018, số lượng doanh nghiệp phải tạm ngừng hoạt động tăng gần 50% so với năm 2017, ở mức 90.
Trong số đó, bao gồm 27.126 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 63.525 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể. Có thể thấy, phá sản của các doanh nghiệp vẫn còn là một vấn đề vô cùng nhức nhối của nền kinh tế nước ta hiện nay. Chính phủ đã ban hành hàng loạt các phương án giải cứu, hỗ trợ để góp phần giúp doanh nghiệp khắc phục khó khăn, khuyến khích doanh nghiệp vượt khó, mở rộng thị trường sản xuất kinh doanh và chuẩn bị điều kiện phát triển ổn định, bền vững, tránh cho doanh nghiệp đi vào bờ vực phá sản thông qua năm giải pháp lớn bao gồm: điều hành vĩ mô (hạ nhanh lãi suất huy động và cho vay, ưu tiên vốn tín dụng một số ngành…), chi tiêu công (đẩy nhanh đầu tư xây dựng cơ bản…), thuế và phí (gia hạn thời gian nộp thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm tiền thuế đất…), điều hành giá và trợ cấp, cải cách thủ tục hành chính thuế (giảm chi phí thủ tục cho doanh nghiệp). (Nghị quy t 13/NQ-CP vào tháng 5/2012) … Tuy nhiên, vấn đề mấu chốt để các doanh nghiệp tồn tại vẫn chính là sự chủ động, cương quyết của mỗi doanh nghiệp đặc thù, đề ra những chiến lược sản xuất kinh doanh hợp lí, phù hợp hoàn cảnh để phát triển.
Vậy thì vấn đề đặt ra ở đây là trong những năm trước khi phá sản hoặc giải thể, các doanh nghiệp ở nước ta nhìn chung đã có những dấu hiệu nhận biết nào để từ đó các doanh nghiệp có thể chủ động khắc phục, tập trung vào mối ưu tiên, quan tâm hàng đầu, hạn chế được kết quả xấu cuối cùng là phá sản? Điều này đã thúc đẩy chúng tôi tìm tòi và nghiên cứu mô hình dự báo phá sản đối với các công ty phi tài chính ở Việt Nam, dựa trên các thành tựu đạt được từ rất nhiều bài 5 nghiên cứu của các quốc gia trên thế giới trong nhiều thập kỉ qua, sử dụng kết hợp các chỉ số tài chính trong doanh nghiệp nhằm đưa ra kết quả dự báo tốt nhất. Tổng quan nghiên cứu về dự báo phá sản doanh nghiệp 1. Tổng quan nghiên cứu Từ những năm 1960, những nhà nghiên cứu đã dành nhiều nỗ lực để kiểm chứng việc dự báo phá sản nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới. Ví dụ, Canada (Alman và Lavelle 1981), Australia (Izan 1984), UK (Charitou at al.
2004), Pháp (Micha 1984), Hàn Quốc (Alman 1995), Nhật Bản (Xu và Zhang 2008), Malaysia (1988), Sudan (Eljelly at al 2001), Ấn Độ (Bandyopadhyay 2006), Turkey (Ugurlu và Aksoy 2006), Iran (Etemadi et al 2008) và nhiều quốc gia khác nữa. Trong một nghiên cứu đã được thực nghiệm của Xu và Zhang (2008), cách tiếp cận để phân tích nguy cơ phá sản của doanh nghiệp dựa vào lịch sử kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp. Nghiên cứu chỉ ra rằng các chỉ tiêu kế toán trong vòng hai năm có sự liên quan khá thấp đối với cả hai nhóm doanh nghiệp đã phá sản và chưa phá sản, nhưng vẫn cao hơn nhiều đối với các doanh nghiệp phá sản. Điều này là bằng chứng cho thấy tình hình kinh tế và tài chính của các công ty phá sản phụ thuộc nhiều vào lịch sử kinh doanh của nó khi so sánh với các công ty hoạt động bình thường.
Nghiên cứu tập trung chủ yếu và điểm mấu chốt là sự ảnh hưởng của các nhân tố phi tài chính dẫn đến khả năng mất thanh toán và phá sản của doanh nghiệp, ví dụ như lịch sử hoạt động, định hướng phát triển của doanh nghiệp cũng như sự tác động của biến động nền kinh tế vĩ mô…. Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này chính là đã bỏ qua sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố tài chính, mà chỉ quan tâm đến liệu các yếu tố phi tài chính sẽ tác động đến các yếu tố tài chính ra sao. Tuy phương pháp đã chỉ ra được nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của doanh nghiệp, nhưng lại không thể chỉ ra một cách chính xác doanh nghiệp nào có nguy cơ dẫn đến phá sản. Điều này khiến cho phương pháp không mang tính ứng dụng cao bởi các yếu tố phi tài chính rất khó 6 để đánh giá, trong khi dùng các chỉ số tài chính sẽ đơn giản và chính xác hơn nhiều.
Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng, đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp (trọng tâm là đánh giá hiệu quả hoạt động) chủ yếu thông qua kết quả phân tích các chỉ tiêu tài chính (Fitzpatrick (1932), Smith & Winakor (1935), Merwin (1942), Chudson (1945), Jackendoff (1965), Altman (1968), Green (1978)…) Một số mô hình dự báo phá sản đã được sử dụng trong thế kỷ qua bao gồm 2 phương pháp chính là phân tích đơn biến (đánh giá từng chỉ số tài chính) và phân tích đa biệt thức (kết hợp các chỉ số). Fitzpatrick (1931) là người tiên phong sử dụng phân tích tỷ số tài chính để dự đoán khả năng phá sản của các doanh nghiệp. Số liệu nghiên cứu của ông được thu thập từ các báo cáo tài chính của 20 doanh nghiệp không tham gia vào ngành công nghiệp sản xuất và kinh doanh trong những năm 1920-1929 tại Hoa Kỳ. Có tổng cộng 13 tỷ số tài chính đã được lựa chọn dựa trên việc sử dụng thường xuyên bởi các nhà phân tích hàng đầu tại thời điểm đó.
Các phát hiện cho thấy rằng các tỷ số tài chính tốt nhất để dự đoán sự phá sản từ báo cáo cuối cùng hàng năm trước khi kinh doanh phá sản là Khả năng sinh lời của tài sản; Vòng quay tài sản cố định; Tỷ số nợ trên tài sản; và Tỷ số thanh toán nhanh. Một trong những nghiên cứu đầu tiên nữa phân tích tiềm năng sử dụng các tỷ lệ kế toán để dự báo nguy cơ phá sản được thực hiện bởi Beaver (1966). Beaver đã nghiên cứu thực nghiệm 79 doanh nghiệp phá sản và số lượng tương ứng các doanh nghiệp kinh doanh thành công trong 10 năm (1954 - 1964) bằng cách sử dụng thử nghiệm phân loại nhị phân. Ông chỉ ra rằng các doanh nghiệp lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính là các doanh nghiệp có giá trị tiền mặt, hàng tồn kho thấp nhưng tỷ lệ nợ phải thu chiếm phần lớn trong doanh thu.
Đồng thời cũng chỉ ra tỷ lệ lưu chuyển tiền thuần/tổng nợ phải trả là chỉ tiêu quan trọng nhất trong dự báo nguy cơ phá sản doanh nghiệp bởi nó thể hiện rõ nhất khả năng có thể thanh toán của doanh nghiệp. Ngoài ra, một số chỉ tiêu khác như tỷ suất sinh 7 lời của tài sản (được tính bằng thu nhập thuần/tổng tài sản) và hệ số nợ (tổng nợ phải trả/tổng tài sản) cũng là các chỉ tiêu dự báo quan trọng bởi chúng phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh và mức độ rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Trong nghiên cứu của Phạm Thị Thủy (2004) nói rằng chỉ cần so sánh các chỉ số tài chính với mức trung bình Beaver đưa ra là có thể phát hiện dấu hiệu khủng hoảng và phá sản của doanh nghiệp, do đó việc áp dụng chỉ số này khá đơn giản với độ tin cậy tương đối cao (Phạm Thị Thuỷ, 2004). Tuy nhiên, hạn chế chính của phương pháp phân tích này là đặc tính đơn biến của phương pháp, bởi vì một công ty được phân loại là còn khả năng thanh toán khi sử dụng một tỷ lệ kế toán, nhưng lại mất khả năng thanh toán khi sử dụng một tỷ lệ kế toán khác.Việc phân tích riêng lẻ từng chỉ số sẽ dẫn đến khả năng mâu thuẫn khi các chỉ số đưa ra kết quả khác nhau, khiến cho việc đưa ra một kết luận chính xác trở nên khó khăn.
Rose và Giroux (1984) cũng cho việc đưa ra dự báo trên chỉ số riêng lẻ có thể dẫn đến sai lệch (Anjum, 2012). Vào năm 1980, nghiên cứu của Ohlson đưa ra mô hình để dự đoán phá sản.