Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA CÔNG CHỨC XÃ 1. Một số khái niệm cơ bản và các học thuyết về động lực làm việc 1.Một số khái niệm cơ bản 1. Động lực Để một xã hội phát triển thì cần có những mục tiêu nhất định, mà để đạt được mục tiêu con người cần có động lực, vậy có thể thấy động lực là vô cùng quan trọng. Trong hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống “động lực” là từ ngữ được nhắc đến nhiều nhất, phải có động lực thì mới có thể hoàn thành được công việc, phải có động lực con người mới tiến tới thành công.
Từ xưa đến nay, các nhà nghiên cứu, nhà quản trị, quản lý luôn đi tìm câu trả lời cho câu hỏi rằng động lực của người lao động là gì?, tại sao con người cần có động lực để lao động? động lực có thật sự quan trọng như vậy không? Rất nhiều câu hỏi được đặt ra nhưng trước tiên chúng ra cần biết được động lực nghĩa là gì? Từ điển Tiếng Việt (năm 1996): Động lực là năng lượng làm cho máy móc chuyển động, hay là cái thúc đẩy, làm cho phát triển. Từ điển kinh tế xã hội Việt Nam (2006) định nghĩa: Động lực là nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực lao động trong những điều kiện có thuận lợi nó tạo ra kết quả cao. Theo Higgins (1994): Động lực là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân để tăng cường sự nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức [2, tr. Động lực là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức.12] Như vậy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực nhưng đều nói lên bản chất của động lực là những gì kích thích con người hành động để đạt tới mục tiêu nào đó.
Mục tiêu của người lao động đặt ra một cách có ý thức được 9 phản ánh bởi động cơ của người lao động và quyết định hành động của họ. Đến đây chúng ta cần phân biệt rõ hai khái niệm động lực và động cơ: Cả động lực và động cơ đều quan trọng. Động cơ là bộ phận quan trọng nhất trong một bộ máy, giúp cho bộ máy đó hoạt động, còn động lực được ví như nhiên liệu để động cơ vận hành. Động lực thường mang tính bền vững và dài hạn, là yếu tố gốc rễ bản chất.
Động cơ thường mang tính ngắn hạn, nhất thời và bề nổi. Từ những quan niệm trên có thể khái quát một cách chung nhất: Động lực là yếu tố bên trong của cá nhân người lao động. Đó chính là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên nhằm tác động vào mong muốn của người lao động để tạo nên sự chuyển biến hành vi hướng theo những mục tiêu mà tổ chức mong muốn đạt được. Tạo động lực làm việc Muốn có động lực, muốn tổ chức vững mạnh thì cần phải dùng các biện pháp kích thích người lao động làm cho họ hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo.
Đó là vấn đề về tạo động lực cho người lao động trong bất kỳ một tổ chức nào. Trong cuốn “Giáo trình quản trị nhân lực”(2004): Động lực làm việc là khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”. Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc. 20] Từ các định nghĩa trên có thể nhận thấy: Động lực làm việc được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức, điều này có nghĩa không có động lực làm việc chung cho mọi lao động.
Mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực làm việc được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể. 10 Động lực làm việc mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc. Khi được làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thể đạt được năng suất lao động tốt nhất.
Động lực làm việc là nguồn gốc dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân và từ đó dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh được nâng cao trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi. Vậy tạo động lực cho người lao động được hiểu là tất cả các biện pháp của nhà quản trị áp dụng vào người lao động nhằm tạo ra động cơ cho người lao động như: Thiết lập nên những mục tiêu thiết thực vừa phù hợp với mục tiêu của người lao động vừa thoả mãn được mục đích của tổ chức, sử dụng các biện pháp kích thích về vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng không phải cứ có động lực làm việc là dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân vì điều đó còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố như trí tuệ, trình độ, tay nghề của người lao động, các phương tiện, công cụ lao động và nguồn lực để thực hiện công việc. Trong thực tiễn, người lao động không có động lực làm việc thì vẫn có thể hoàn thành công việc; thế nhưng chúng ta không thấy nhiều sự gắn bó, nhiệt huyết của họ với tổ chức.
Bản thân họ không thể mang hết tài năng và trí tuệ cống hiến tận tụy cho tổ chức và không khi nào họ là những nhân viên trung thành, là tài nguyên quý giá của tổ chức. Để có được động lực cho người lao động làm việc thì phải tìm cách tạo ra được động lực đó. Do vậy, tạo động lực lao động là sự vận dụng một hệ thống chính sách, biện pháp, cách thức quản lý ảnh hưởng tới người lao động làm cho họ có động lực trong công việc, làm cho họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức. Đối với cơ quan nhà nước đặc biệt là công chức cấp xã huyện Văn Bàn, lãnh đạo các cấp luôn xác định vấn đề quan trọng của tạo động lực làm việc đó là mục tiêu.
Nhưng để đề ra được những mục tiêu phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của công chức xã, tạo cho họ sự hăng say, nỗ lực trong quá trình 11 làm việc thì các cấp lãnh đạo luôn coi trọng mục đích của nhân viên. Việc dự đoán và kiểm soát hành động của công chức xã hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua việc nhận biết động cơ và mong muốn của họ. Nhà lãnh đạo muốn nhân viên trong tổ chức của mình nỗ lực hết sức hướng tới thành công của tổ chức thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với người công chức đồng thời tạo mọi điều kiện cho người lao động hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất. Khuyến khích bằng vật chất lẫn tinh thần, tạo ra bầu không khí thi đua trong nhân viên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của tổ chức đặc biệt trong môi trường nhà nước.
Các nhà quản trị đã từng nói “Sự thành bại của một tổ chức thường phụ thuộc vào việc sử dụng hợp lý nhân viên trong tổ chức như thế nào”, phá bỏ sức ỳ, khơi gợi sự năng động nhiệt huyết làm việc cho công chức. Công chức và công chức cấp xã Theo khoản 2, 3 Điều 4 Luật Cán bộ Công chức 2008 quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [11, tr12]. Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 12 Theo định nghĩa trên, đầu tiên công chức phải là công dân Việt Nam.
Được tuyển dụng theo đúng trình độ, chuyên môn của chức danh cần thi tuyển. Làm việc trong bộ máy chính quyền từ trung ương xuống địa phương, đặc biệt là công chức cấp xã – là những người gần dân nhất, quan trọng nhất trong bộ máy nhà nước. Đảm nhiệm công tác từ khi được bổ nhiệm, tuyển dụng cho tới khi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động mà không hoạt động theo nhiệm kì như cán bộ (Điều 60 – Luật cán bộ, công chức năm 2008). Chấm dứt đảm nhiệm chức vụ khi đến tuổi nghỉ hưu: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi (Quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 73 – Luật Bảo hiểm Xã hội năm 2014).
Thực hiện các nghĩa vụ, quyền quy định tại Luật cán bộ công chức (2008), quy định khác của pháp luật có liên quan, điều lệ của tổ chức mà mình là thành viên. Được biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Điều 12 – Luật cán bộ, công chức năm 2008); đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật 1.Các học thuyết về động lực làm việc cơ bản 1.Học thuyết nhu cầu của Maslow Theo từ điển tiếng Việt (1996), nhu cầu là “đòi hỏi của đời sống, tự nhiên và xã hội”. Nhu cầu của người lao động rất phong phú và đa dạng. Họ luôn thúc đẩy bản thân, nỗ lực để có thể thoả mãn được những mong muốn của mình, mong muốn càng lớn mức nỗ lực càng cao tức là động cơ càng lớn.