Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản của ĐCTĐ trong học tập của sinh viên. - Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu thực tiễn. 7 z CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN CỦA ĐỘNG CƠ THÀNH ĐẠT TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Các nghiên cứu về động cơ. Có thể nói động cơ (ĐC) là một trong những vấn đề quan trọng nhất, nhưng cũng phức tạp nhất của TLH. Rất nhiều trường phái TLH khác nhau trên thế giới cố gắng tìm hiểu bản chất, cấu trúc và biểu hiện của ĐC hoạt động của con người. Mỗi trường phái TLH đều dựa trên hệ quan điểm lý luận phương pháp luận của mình mà đưa ra quan niệm về ĐC khác nhau.
Sau đây chúng ta sẽ xem xét quan niệm về ĐC của hai khuynh hướng lớn trong lịch sử TLH thế giới: - Tâm lý học phương Tây; - Tâm lý học hoạt động 1. Các nghiên cứu về động cơ của các nhà Tâm lý học phương Tây. Tâm lý học hành vi ra đời vào năm 1913 ở Mỹ do J. Watson khởi xướng.
Khi nghiên cứu hành vi con người, tâm lý học hành vi chủ trương không nghiên cứu các hiện tượng tâm lý bên trong mà chỉ nghiên cứu những biểu hiện hành vi bên ngoài của cơ thể - những biểu hiện có thể trực tiếp quan sát và lượng giá được. Mọi hành vi của con người đều được biểu đạt theo công thức: kích thích - phản ứng (S-R). Watson cho rằng chỉ cần biết một trong hai yếu tố này thì có thể suy ra yếu tố còn lại tương ứng. Ví dụ, nếu biết kích thích S1 thì có thể suy đoán được phản ứng R1 của con người và ngược lại, nếu biết phản ứng R2 thì có thể tìm ra kích thích S2 tương ứng với nó.
Mọi hành vi của cơ thể đều thực hiện trên cơ sở của phản xạ có điều kiện. Theo Watson, hành vi con người hoàn toàn phụ thuộc vào kích thích và vào hình thức, tính chất của “cái củng cố”. Ông có câu nói rất nổi tiếng: “Ai kiểm soát được củng cố thì người đó kiểm soát được hành vi”. Bằng cách lý giải như vậy, chủ nghĩa hành vi đã đánh đồng con người với máy móc, tước bỏ tính tích cực, chủ động của con người - với tư cách là một chủ thể có khả năng “biến đổi và cải tạo thế giới”.
Theo quan điểm này thì không thể thấy được bản chất, nội dung của động lực thúc đẩy hành vi con người. 8 z Trường phái Phân tâm học (S.Horney…) cho rằng động lực cơ bản của mọi hành vi con người là những bản năng sinh vật vô thức.Freud, xung năng tính dục (năng lượng libido) và những biến thể của nó là cội nguồn duy nhất thúc đẩy mọi hành vi của con người. Với Adler - đại diện của Phân tâm học mới lại khẳng định ý chí quyền lực là động lực thúc đẩy mọi hoạt động của con người. Động cơ của con người được nảy sinh khi diễn ra mối tương quan giữa sự khao khát hùng mạnh, quyền lực với cảm giác kém giá trị trong một con người.
Về thực chất, ý chí quyền lực mà Adler đưa ra cũng là một lực lượng bản năng tương tự như quan niệm của Freud, duy chỉ có điều nó mang một hình thức khác. Các nhà Tâm lý học nhân văn (C.Allport…) cho rằng động cơ của con người vừa mang bản chất sinh học vừa mang bản chất xã hội. Theo quan điểm này, động cơ của con người là bẩm sinh, có bản chất sinh học, mặt khác con người có khả năng nhận thức những tác động đến từ môi trường qua đó có thể lựa chọn cách tốt nhất để thoả mãn, hiện thực hoá động cơ của mình.Rogers cho rằng mỗi cá nhân đều có "khuynh hướng hiện thực hoá bản thân". Theo ông, động cơ con người mang tính bẩm sinh, được bộc lộ dần trong quá trình sống, tuy nhiên sự bộc lộ này bị chi phối bởi môi trường xã hội bên ngoài.
Quá trình hiện thực hoá những yếu tố bẩm sinh này bị ảnh hưởng bởi môi trường nơi cá nhân đó tham gia hoạt động. Nói cách khác, theo các nhà Tâm lý học nhân văn, sự hình thành động cơ của con người diễn ra trên nền tảng bền vững của di truyền và bẩm sinh. Điều đó có nghĩa là di truyền và bẩm sinh là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển động cơ hoạt động của con người. Bên cạnh đó, các nhà tâm lý học nhân văn còn thừa nhận cả những xung động bản năng, những ý hướng sinh vật, những rung cảm, mục đích sống, lý tưởng…đều thuộc lĩnh vực động cơ hoạt động của con người.
Nhìn chung, các nhà tâm lý học phương Tây, vừa được đề cập đến, đều đứng trên bình diện của khoa học tự nhiên để xem xét vấn đề tâm lý của con người nói chung và động cơ hoạt động của con người nói riêng. Trong hệ thống lý luận phương pháp luận của các nhà tâm lý học trên còn chưa giải quyết thoả đáng mối quan hệ giữa cái sinh học 9 z và cái xã hội trong quá trình nghiên cứu con người. Điều này dẫn đến những quan điểm sinh vật hoá bản chất của động cơ con người. Các nghiên cứu về động cơ của một số nhà Tâm lý học hoạt động.
Dòng phái Tâm lý học hoạt động do các nhà Tâm lý học Liên Xô (cũ) sáng lập với những đại diện nổi tiếng như: L. Luria…Dòng phái tâm lý học này lấy Triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin (mà chủ yếu là các quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử) làm cơ sở phương pháp luận cho những nghiên cứu tâm lý con người của mình. Các nhà Tâm lý học hoạt động cho rằng muốn nghiên cứu tâm lý con người phải nghiên cứu chính phương thức sống đặc trưng của con người, có vậy mới thấy được sự khác biệt về chất giữa tâm lý con người với tâm lý con vật. Con người và môi trường (môi trường tự nhiên và môi trường xã hội) không tách rời nhau mà chúng luôn có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau.
Từ đây, hàng loạt hiện tượng tâm lý cơ bản của con người, trong đó có động cơ được các nhà tâm lý học hoạt động nghiên cứu, xem xét dưới góc độ mới, khác hẳn với tâm lý học phương Tây. Rubinstein (1946) đã xây dựng những luận điểm chung về động cơ hoạt động thông qua việc phân tích những dạng hoạt động cụ thể. Ông nhận định: “Động cơ của con người được tạo ra từ những nhu cầu, hứng thú và được hình thành ở con người trong quá trình sống”. [dẫn theo 35, tr.
Theo ông, động cơ là sự quy định về mặt chủ quan hành vi của con người bởi thế giới, sự quy định này được thực hiện gián tiếp bằng quá trình phản ánh thế giới đó. Leonchiev đi sâu nghiên cứu nội hàm của động cơ cũng như bản chất và đặc điểm của nó. Ông chỉ ra mối quan hệ biện chứng không thể tách rời giữa nhu cầu và động cơ. Động cơ được hình thành khi con người nhận thức đầy đủ về đối tượng có thể thoả mãn nhu cầu của mình.
Động cơ không phải là một hiện tượng tâm lý dễ nắm bắt, nó thể hiện ra bên ngoài bằng rất nhiều hình thức khác nhau: “Cái nghịch lý là ở chỗ này: các động cơ chỉ lộ ra trước ý thức một cách khách quan, bằng cách phân tích hoạt động, phân tích động thái của hoạt động. Còn trong chủ quan thì các động cơ chỉ thể hiện dưới dạng 10 z gián tiếp của nó mà thôi, tức là dưới hình thức những trải nghiệm như mong muốn, ý muốn, nguyện vọng đạt tới mục tiêu”. Ông nhấn mạnh con đường duy nhất nghiên cứu động cơ là thông qua hoạt động của chủ thể trong các mối quan hệ xã hội mà họ tham gia vào. Động cơ thực hiện hai chức năng quan trọng: thúc đẩy, hướng dẫn hoạt động và tạo ra cho hoạt động có ý của chủ thể.
Trong quá trình hoạt động, các động cơ không tồn tại độc lập với nhau mà chúng liên kết, hình thành hệ thống động cơ của con người. Từ những quan điểm trên đây của các nhà Tâm lý học hoạt động về động cơ hoạt động của con người, có thể rút ra một số nhận xét như sau: a. Các nhà Tâm lý học hoạt động nghiên cứu tâm lý con người (bao gồm động cơ) trong mối quan hệ biện chứng với hiện thực khách quan. Động cơ có mối quan hệ với nhiều hiện tượng tâm lý khác, đặc biệt có quan hệ mật thiết với nhu cầu.
Trong quá trình cá nhân hoạt động có sự chuyển hoá từ nhu cầu thành động cơ, thúc đẩy hoạt động. Trên cơ sở hai khuynh hướng nghiên cứu lớn về động cơ trong lịch sử Tâm lý học nêu trên, các nhà tâm lý học Việt Nam khi nghiên cứu động cơ đã tiếp thu, kế thừa tinh hoa của hai dòng phái đó. Tuy vậy, xét trên bình diện vĩ mô, Tâm lý học Việt Nam sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng cách tiếp cận hoạt động - nhân cách của Tâm lý học hoạt động vào nghiên cứu động cơ nói riêng và tâm lý con người nói chung. * Các nghiên cứu về động cơ ở Việt Nam.
Khoa học tâm lý xuất hiện ở Việt Nam chưa lâu, những nghiên cứu về Tâm lý con người, trong đó có ĐC hoạt động cũng chưa thực sự nhiều. Mặc dù vậy, trong thời gian gần đây ở Việt Nam có một số công trình nghiên cứu về ĐC hoạt động như sau: - Khăm phăn Khăm on có công trình nghiên cứu “Động cơ học tập và quan hệ của nó với nguyện vọng chọn nghề của học sinh Lào”. Nghiên cứu cho thấy ĐC học tập chi phối trực tiếp đến kết quả học tập của học sinh. ĐC học tập được biểu hiện qua hành động học tập của học sinh, và đặc biệt rõ nét ở những học sinh có kết quả học tập khá và 11 z giỏi.
Theo tác giả, chính những kết quả học tập là điều kiện quan trọng để tiếp tục thúc đẩy những nhu cầu, khát vọng tiếp thu tri thức, ý thức trách nhiệm của họ đối với đất nước. - Trần Thị Thìn có nghiên cứu “Động cơ học tập của sinh viên sư phạm - thực trạng và phương hướng giáo dục” (2004).