mở đầu với sự xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam. Trong giai đoạn đầu, những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, một số sĩ quan, quan lại Pháp, dưới danh nghĩa "học giả", "nhà nghiên cứu", "nhà thám hiểm" (như D'Argence và Demange) tiến hành thu lượm, mua bán một số hiện vật văn hóa Đông Sơn ở miền núi và đồng bằng lưu vực sông Hồng. Chính quyền thực dân đã thành lập phái đoàn khảo cổ Đông Dương năm 1898, sau đổi thành Trường Viễn Đông Bác cổ của Pháp năm 1900, trong đó có Viện Bảo tàng trưng bày các hiện vật khảo cổ và lịch sử mà họ thu lượm, mua được. Việc thành lập Trường Viễn Đông Bác cổ ở Hà Nội đánh dấu sự quan tâm của chính quyền thực dân đối với công tác khảo cổ ở Việt Nam.
Trong mấy chục năm tồn tại, trường là cơ quan chính, nếu không nói là duy nhất, tiến hành việc tìm kiếm, thăm dò, khai quật, nghiên cứu văn hóa Đông Sơn. Năm 1903, trường đã lấy được chiếc trống đồng Ngọc Lũ ở chùa Long Đọi Sơn, Hà Nam. Những hiện vật như rìu, giáo, dao găm, trống đồng, tấm che ngực,. đã được D'Argence và Demange bán lại cho trường và một số Viện Bảo tàng ở Pháp.
Đây là bộ sưu tập hiện vật văn hóa Đông Sơn lớn nhất, phong phú nhất, lần đầu tiên được biết đến. Song không có được một báo cáo khảo tả chi tiết, thẩm định giá trị mà chỉ được giới thiệu lẻ tẻ trên một số tập san của trường. Suốt hơn nửa thế kỷ tìm kiếm, với các học giả nước ngoài đã tham gia nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương trong lịch sử nước ta như H.Heger (học giả người Đức), Pajot (Pagiô) - nhà khảo cổ học người Pháp, Victor Goloubew (Goolubép) - học giả Pháp gốc Nga chuyên nghiên cứu về lịch sử nghệ thuật, Heine. Ghenđec) - nhà khảo cổ học người Áo, Olov.
Yanxe) - nhà khảo cổ học Thụy Điển, Aurousseau (học giả Pháp), Karlgren (học giả Thụy Điển), Van Stein Callenfels (học giả Hà Lan), T. mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng các học giả này đã phát hiện được một nền văn hóa Đông Sơn độc đáo, phong phú trên đất nước ta, tập trung chủ yếu trên lưu vực Sông Hồng, Sông Mã. Họ đã từ di tích Đông Sơn và cả trống đồng phát hiện lẻ tẻ, xác nhận một nền văn hóa Đông Sơn, phác họa bộ mặt văn hóa Đông Sơn, tuy còn mờ nhạt, rời rạc, thậm chí có những đường nét lệch lạc, như Victor Goloubew, Olov. Janse đã tách rời nền văn hóa Đông Sơn ra khỏi thời kỳ Hùng Vương và cổ sử Việt Nam nói chung.
Mặc dù "có những phương pháp nghiên cứu tiến bộ hơn so với các sử gia phong kiến, có những bộ môn hỗ trợ cho sử học như khảo cổ học, nhân chủng học, ngôn ngữ học, dân tộc học, địa lý học,.17] nhưng do trình độ hạn chế của khảo cổ học những năm trước Đại chiến Thế giới lần thứ hai (1939-1945) cùng mục đích xâm lược và tư tưởng học thuật chủ đạo là "thuyết thiên di", thuyết ngoại lai, vị chủng, "chủ nghĩa truyền bá", "trung tâm Phương Tây". nên các nhà sử học phương Tây không đi sâu nghiên cứu toàn diện thời kỳ Hùng Vương cũng như lịch sử cổ đại nước ta mà chỉ tập trung vào việc xác định niên đại, sự tồn tại, nguồn gốc văn hóa và minh giải hoa văn trên cơ sở các lễ nghi, tín ngưỡng. Vì vậy, cũng không có những nghiên cứu về các khía cạnh thẩm mỹ thời kỳ này. Người Việt Nam nghiên cứu lịch sử thời kỳ Hùng Vương tiêu biểu có Trần Trọng Kim với cuốn Việt Nam sử lược, xuất bản lần đầu năm 1920.
Tác giả cho rằng truyện Hồng Bàng không chắc là truyện xác thực, từ đời Kinh Dương Vương đến đời Hùng Vương thứ 18 cả thảy 20 ông vua mà từ năm 2879 đến năm 258 TCN thì vừa 2622 năm, tức mỗi ông trị vì được non 150 năm, thực tế khó có nhiều người sống lâu như vậy. Ngoài Trần Trọng Kim, còn có một số bài viết về thời kỳ Hùng Vương đăng trên các tạp chí Tri Tân, Thanh Nghị, Kỷ yếu của Hội Khai trí tiến đức của một số học giả Việt Nam, “nhưng do trình độ khoa học và tình hình nghiên cứu lúc bấy giờ, cho nên cũng không có cách nào hơn là dựa vào sử sách cũ, bàn cãi lặt vặt quanh việc ghi chép đúng sai về mặt văn tự của người xưa" [139, tr. Như vậy, ở thời Pháp thuộc, thời kỳ Hùng Vương chưa được nhận thức đúng đắn, dù là các sử gia trong nước hay nước ngoài. Bởi vậy, vấn đề đời sống thẩm mỹ thời kỳ này cũng chưa được quan tâm nghiên cứu.
16 Cách mạng Tháng 8-1945 thành công, đưa dần công cuộc nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương vào một giai đoạn mới, đặc biệt từ 1954 đến nay. Với việc ra đời Đội Khảo cổ thuộc Vụ Bảo tồn Bảo tàng và xây dựng Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam trên cơ sở Viện Bảo tàng L. Finot của Pháp để lại, đồng thời hình thành dần bộ môn khảo cổ trong Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, công cuộc tìm tòi, nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương mới thực sự được chú trọng, đi đúng hướng, nhất là từ 1975. Các nhà nghiên cứu bước đầu hệ thống lại tư liệu cũng như các quan điểm học thuật về thời đại này.
Tuy chưa có thêm tư liệu mới nhưng các nhà nghiên cứu của chúng ta đã phê phán các quan điểm sai trái của các học giả nước ngoài, nhận thức được tầm quan trọng của thời kỳ Hùng Vương trong tiến trình lịch sử dân tộc. Trong các công trình đó, thời kỳ này đã giữ một vị trí xứng đáng. Từ 1968 đến nay, công cuộc nghiên cứu về thời kỳ Hùng Vương nở rộ mạnh mẽ với các tác phẩm: Thẻ ngọc An Dương của Trần Văn Giáp, Tập san Nghiên cứu Văn Sử Địa số 53, năm 1957 (đặc san về thẻ ngọc An Dương); Cổ sử Việt Nam (Lịch sử cổ đại Việt Nam) của Đào Duy Anh, Tập san Đại học (Văn khoa) (chuyên san), Hà Nội, 1957 gồm 4 tập trình bày về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, vấn đề Âu Lạc và nước Âu Lạc, văn hóa đồ đồng và trống đồng Lạc Việt, giai đoạn quá độ sang chế độ phong kiến. Với các tác phẩm này, "việc nghiên cứu nước Âu Lạc, vấn đề An Dương Vương, Loa Thành đã được đề cập trên cơ sở tư liệu phong phú gấp bội, bao gồm tư liệu thư tịch, khảo cổ học và dân tộc học" [139, tr.
Dựa vào những tài liệu mới phát hiện, những ý kiến đóng góp trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử về lịch sử cổ đại trong giai đoạn này, bài Xã hội nước Văn Lang và xã hội nước Âu Lạc, Văn Tân, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 20, 1960 đã soi sáng một số điểm thời kỳ Hùng Vương. Tác giả bước đầu khẳng định “sự tồn tại của nước Văn Lang và Âu Lạc, nêu rõ sự quan hệ hữu cơ giữa xã hội Văn Lang và xã hội Âu Lạc, đi sâu tìm hiểu chế độ chính trị, kinh tế, xã hội nước Văn Lang và Âu Lạc, nêu ý kiến sự phân chia giai cấp xuất hiện ở thời Hùng Vương" [139, tr. Từ 1966-1968, đáng chú ý có cuốn Những vấn đề về thời đại Hùng Vương với những bài viết được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử năm 1967 như: Vài suy nghĩ về việc tìm hiểu thời đại Hồng Bàng, Nguyễn Linh, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 100; Hoàng Thị Châu: Tìm hiểu từ "phụ đạo" trong truyền thuyết Hùng Vương, Tạp chí 17 Nghiên cứu Lịch sử số 102; Lê Văn Lan - Phạm Văn Kỉnh: Di tích khảo cổ trên đất Phong Châu và địa bàn gốc của các vua Hùng, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 107; Nguyễn Linh - Hoàng Hưng: Vấn đề Hùng Vương và khảo cổ học, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 108. Tiếp sau đó, hàng loạt các bài viết về thời kỳ Hùng Vương được ra đời: Về sự tồn tại nước Văn Lang, Nguyễn Linh, Nghiên cứu lịch sử, số 112, 1968; Tìm hiểu một số vấn đề về thời kỳ Hùng Vương, Phạm Văn Kỉnh, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, 1969 (Cuốn sách trình bày về một số vấn đề về thời kỳ Hùng Vương: truyền thuyết, khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học với việc nghiên cứu thời Hùng Vương.
Những vấn đề chủ yếu về nước Văn Lang và thời kỳ Hùng Vương); Các giai đoạn phát triển văn hóa thời Hùng Vương, Khảo cổ học, số 9-10, 1971;. Qua nghiên cứu của tác giả, từ sau cách mạng tháng 8 - 1945, các kết quả nghiên cứu về thời kỳ Hùng Vương cơ bản theo hai hướng: Thứ nhất, hướng nghiên cứu của sử học (lịch sử), đặt thời kỳ Hùng Vương trong toàn bộ tiến trình lịch sử dân tộc. Theo hướng này, thời kỳ Hùng Vương được đề cập một cách khái quát, sơ lược. Những tác phẩm tiêu biểu như: Cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời, Đào Duy Anh, Nxb Văn hóa thông tin, 1964 nghiên cứu địa lý học lịch sử Việt Nam, từ đó giúp ta hiểu thêm được về phương diện địa lý những sự kiện quan trọng của thông sử Việt Nam, trong đó có thời kỳ Hùng Vương.
"Chủ yếu là nghiên cứu phần địa lý hành chính để nhận định cương vực của nhà nước và vị trí các khu vực hành chính trải qua các đời, rồi đến quá trình mở mang lãnh thổ" [4, tr. Đồng thời "nghiên cứu khía cạnh địa lý của những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm quan trọng trong thời phong kiến, tức là sự nghiệp bảo toàn đất nước trải qua các đời" [4, tr. Ngoài ra, còn một số tác phẩm khác của Đào Duy Anh như Lịch sử cổ đại Việt Nam 4 tập (1957), Việt Nam văn hóa sử cương (1938), Vấn đề hình thành dân tộc Việt Nam (1957), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX,… Cuốn Hành trình về thời đại Hùng Vương dựng nước, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2000, Lê Văn Hảo đã giới thiệu công trình khoa học nghiên cứu về lịch sử Việt Nam từ thời đại Hùng Vương dựng nước, khôi phục lại thiên nhiên, phong tục tập quán, hội hè, tín ngưỡng, truyền thống anh hùng,. của người Việt cổ thời dựng nước.