CHƯƠNG I NHỮNG LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ I. Những lí luận cơ bản về bán phá giá. Trong thương mại quốc tế, hành động bán phá giá có lẽ xuất hiện từ rất lâu trước khi người ta định nghĩa được từ “ bán phá giá”. Vào thế kỷ 16-17, đó là một trong những biện pháp chiếm đoạt thị trường của đế quốc Anh, về sau bán phá giá được một loạt các nước TBCN mới nổi bắt chước thực hiện, nên tạo ra cản trở vô cùng lớn đến sự phát triển bình thường của thương mại thế giới.
Bán phá giá được sử dụng ngày một mạnh mẽ đã gây không ít tổn thất cho nền sản xuất của các nước nhập khẩu. Do vậy, đầu thế kỷ 20 các nước phương tây đã liên tiếp soạn thảo luật chống bán phá giá của nước mình. Canada là nước đầu tiên cho ra đời bộ luật chống bán phá giá vào năm 1904. Nước Mỹ ngay trong Luật thuế quan 1916 đã có điều khoản liên quan đến chống bán phá giá.
Chính các luật chống bán phá giá của các nước và thực tiễn thương mại đã tạo tiền đề cần thiết cho sự hình thành một bộ luật quốc tế thống nhất về chống bán phá giá. Năm 1948, hiệp định chung về thuế quan và thương mại- GATT- được kí kết với nguyên tắc cơ bản là cạnh tranh công bằng, nhấn mạnh vào thúc đẩy tự do hoá thương mại toàn cầu. Mà việc phản đối sử dụng các hành động cạnh tranh bất bình đẳng như bán phá giá là điều thiết yếu để thực hiện được tiến trình này. Nội dung chống bán phá giá đã được đề cập tới trong điều VI của GATT.
Tuy nhiên, điều VI GATT là một điều khoản mang tính quy định, muốn áp dụng vào thực tiễn cần phải có một bộ luật quy định cụ thể hơn. Trên cơ sở đó, ở hiệp Kenedy (1964-1967) các bên đã kí kết "Hiệp định chống bán phá giá ", hiệp Tokyo (1973-1979) tiếp tục đưa ra quy tắc chung về chống bán phá giá, đến hiệp Urugoay (1986- 1994) vấn đề về bán phá giá và chống bán phá giá đã được thống nhất khi các Lu LÖ Quyªn – Trung 1 – K38E 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kho¸ luËn tèt nghiÖp quốc gia thành viên WTO cùng nhau đặt bút ký vào "Hiệp định thực thi điều VI của hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994" hay còn gọi là "Hiệp định chống bán phá giá của WTO". Hiệp định trở thành quy phạm luật quốc tế có hiệu lực với tất cả các thành viên WTO. Khi một nước tiến hành kiện nước khác bán phá giá thì không chỉ áp dụng luật chống bán phá giá của chính nước đó mà đồng thời còn phải tuân thủ các quy tắc chống bán phá giá của WTO, giữa luật của quốc gia và quy tắc chống bán phá giá không được có sự mâu thuẫn.
Tuy nhiên, do hiệp định có nhiều kẽ hở về vấn đề tự vệ và việc đối phó với sự lẩn tránh các biện pháp chống bán phá giá nên trong thực tiễn thương mại hiện nay chống bán phá giá đang bị các nước, đặc biệt là các nước phát triển lợi dụng để bảo hộ cho nền sản xuất trong nước. Do đó, đối với một doanh nghiệp xuất khẩu của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới khi đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá thì một vấn đề không thể bỏ qua là phải nghiên cứu về luật chống bán phá giá của các quốc gia, các thị trường mà mình muốn thâm nhập để tránh nguy cơ bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá. Trong các luật chống bán phá giá thì không thể không nhắc đến " Hiệp định thực thi điều VI GATT 1994", cùng luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu, nước và khu vực thị trường lớn nhất thế giới. Ta sẽ lần lượt nghiên cứu vấn đề bán phá giá và chống bán phá giá được đề cập tới trong các luật trên.
1/ Khái niệm về bán phá giá. Theo điều VI của GATT, bán phá giá là mang sản phẩm của một nước này sang bán ở nước khác với một mức giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó khi bán ở thị trường nội địa của nước xuất khẩu. Như vậy, điểm cốt lõi của bán phá giá không phải là bán với giá rẻ mà chính là sự khác biệt về giá giữa giá xuất khẩu với giá bán trên thị trường nội địa. Một nước có thể xuất khẩu hàng hoá sang nước khác với giá rẻ hơn hàng hoá cùng loại đang bán trên thị trường nước nhập khẩu, nếu giá bán không thấp hơn giá bán của hàng hóa trên thị trường nước xuất khẩu thì hành động Lu LÖ Quyªn – Trung 1 – K38E 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kho¸ luËn tèt nghiÖp đó không phải là bán phá giá.Ta cũng có thể thấy rõ điều này qua khái niệm về bán phá giá được quy định trong luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ hay Liên minh Châu Âu.Theo luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ thì một hàng hoá được xem là bán phá giá nếu như giá xuất khẩu trung bình được điều chỉnh thấp hơn giá bán trung bình được điều chỉnh của hàng hoá tương tự hoặc cùng loại tại thị trường trong nước hoặc thị trường của nước thứ ba.
Vậy việc xác định bán phá giá được thực hiện bằng cách so sánh giá xuất khẩu của sản phẩm đó với "giá trị công bằng" do Bộ thương mại Hoa Kỳ áp đặt. Còn theo luật chống bán phá giá của liên minh Châu Âu, bán phá giá được phân biệt với một hành vi đơn giản là bán hạ giá, vốn là kết quả của việc giảm chi phí hay tăng năng suất. Tiêu chí cơ bản trong lĩnh vực này, trên thực tế, là không có mối quan hệ giữa giá của sản phẩm xuất khẩu và giá trên thị trường của nước nhập khẩu mà là mối quan hệ giữa giá của sản phẩm xuất khẩu và giá trị thông thường. Do đó, một sản phẩm bị coi là phá giá nếu như giá xuất khẩu của nó vào Cộng đồng thấp hơn giá so sánh của sản phẩm tương tự trong quá trình kinh doanh thông thường trong phạm vi của nước xuất khẩu.
Nhìn chung, các luật chống bán phá giá đều có những quy định tương tự trong đó xác định một hàng hoá bán phá giá thông qua so sánh giữa giá xuất khẩu và giá thông thường. Vậy để hiểu rõ hơn về khái niệm bán phá giá, ta sẽ đi sâu nghiên cứu về giá xuất khẩu và giá trị thông thường.1/ Giá trị thông thường. Theo hiệp định chống bán phá giá năm 1994 của WTO thì giá trị thông thường nói chung là giá của sản phẩm tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu đến người tiêu dùng trong quá trình thương mại thông thường. Tuy nhiên, một trong những vấn đề phức tạp nhất trong điều tra bán phá giá là liệu việc tiêu thụ trên thị trường nội địa có được "thực hiện trong quá trình thương mại thông thường" hay không? Một trong những cơ sở để xác Lu LÖ Quyªn – Trung 1 – K38E 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kho¸ luËn tèt nghiÖp định điều đó là so sánh giá bán trên thị trường nội địa với chi phí.
Hiệp định quy định những trường hợp cụ thể mà việc tiêu thụ hàng hoá ở thị trường nội địa với giá thấp hơn chi phí của quá trình sản xuất sẽ không được coi là " thực hiện trong quá trình thương mại bình thường". Theo điều 2 thì đó là khi hàng hoá được bán với giá thấp hơn chi phí cố định, chi phí biến đổi cộng chi phí hành chính, chi phí bán hàng, chi phí khác trong khoảng thời gian kéo dài (thường là một năm trong bất kì trường hợp nào cũng không ít hơn sáu tháng) và với một số lượng đáng kể. Số lượng hàng bán được thực hiện với số lượng đáng kể khi: (1) giá bán bình quân gia quyền thấp hơn chi phí bình quân gia quyền; (2) chiếm 20% lượng tiêu thụ được sử dụng để xác định giá trị thông thường. Và số lượng hàng bán thấp hơn chi phí cũng không được tính đến khi xác định giá trị thông thường khi chúng không cho phép thu hồi chi phí trong thời gian hợp lí.
Song nếu hàng bán thấp hơn chi phí nhưng cao hơn chi phí bình quân gia quyền trong suốt quá trình điều tra thì hiệp định công nhận là cho phép thu hồi chi phí trong khoảng thời gian hợp lí. Tuy nhiên, việc loại trừ những khối lượng hàng bán thấp hơn chi phí có thể tạo ra một mức độ khối lượng bán hàng không đủ để xác định giá trị thông thường dựa trên giá cả thị trường nội địa. Điều này sẽ không cho phép một sự so sánh chính xác giữa giá thị trường nội địa và giá xuất khẩu. Vì vậy, trong hiệp định quy định rằng khối lượng hàng bán ở thị trường nội địa phải bằng ít nhất 5% lượng xuất khẩu của sản phẩm đó tại thị trường nước nhập khẩu, tuy nhiên một tỉ lệ thấp hơn "nên" được chấp nhận nếu khối lượng hàng bán ở thị trường nội địa ở tầm cỡ đủ để đưa ra sự so sánh công bằng.
Trong trường hợp việc bán hàng ở thị trường nước xuất khẩu không phải là cơ sở chính xác, ví dụ không có sản phẩm tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu hoặc khối lượng bán hàng ở thị trường nội địa thấp hơn 5% khối lượng xuất khẩu, thì việc xác định giá trị thông thường sẽ căn cứ vào: Lu LÖ Quyªn – Trung 1 – K38E 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kho¸ luËn tèt nghiÖp Giá mà sản phẩm được bán cho nước thứ ba. () Trị giá cấu thành của sản phẩm. () (): Giá đó được xác định là giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự khi xuất khẩu đến nước thứ ba thích hợp, miễn là giá đó được coi là tiêu biểu. Hiệp định không chỉ rõ bất cứ tiêu chuẩn nào để xác định nước thứ ba như thế nào là thích hợp.
(): Trị giá cấu thành được xây dựng gồm ba bộ phận: Chi phí sản xuất ( nguyên vật liệu, lao động, chi phí quản lí sản xuất ) Chi phí quản lí và bán hàng nội địa. Một giới hạn lãi hợp lí. Ngoài ra, khi sản phẩm không được nhập trực tiếp từ nước sản xuất mà được xuất khẩu từ một nước trung gian, hiệp định quy định rằng giá trị thông thường sẽ được xác định trên cơ sở khối lượng bán hàng trên thị trường nước xuất khẩu.