Đối sách của Trung Quốc khi bị kiện bán phá giá và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu Microsoft word luu le quyen, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2003

101
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

1.1. Những lý luận cơ bản về bán phá giá. Khái niệm về bán phá giá

1.2. Phân loại bán phá giá. Mục đích của bán phá giá hàng hóa ra nước ngoài. Những lý luận cơ bản về chống bán phá giá. Mục đích của biện pháp chống bán phá giá. Điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Xu hướng phát triển của chống bán phá giá

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRUNG QUỐC BỊ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

2.1. Thực trạng nước ngoài kiện Trung Quốc bán phá giá. Khái quát về tình hình xuất khẩu của Trung Quốc. Thực tế Trung Quốc bị kiện bán phá giá thời gian qua và khuynh hướng phát triển của các biện pháp chống bán phá giá đối với hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc trong thời gian tới

2.2. Nguyên nhân Trung Quốc bị kiện bán phá giá. Nguyên nhân khách quan. Nguyên nhân chủ quan

2.3. Một số đối sách của Trung Quốc khi bị kiện bán phá giá hàng hoá ra nước ngoài. Hậu quả các vụ kiện bán phá giá đến nền kinh tế Trung Quốc. Nguyên nhân thua kiện

3. CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ

3.1. Khái quát các vụ kiện Việt Nam bán phá giá

3.2. Thực trạng các vụ kiện Việt Nam bán phá giá. Cách thức các nước tiến hành điều tra và đánh thuế chống bán phá giá đối với hàng hóa của Việt Nam. Những khó khăn của Việt Nam khi phải đối mặt với tranh chấp bán phá giá

3.3. Bài học kinh nghiệm với Việt Nam trong vấn đề phòng và chống bị kiện bán phá giá

3.3.1. Về phía chính phủ

3.3.2. Về phía doanh nghiệp

Danh mục tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về đối sách của Trung Quốc trong kiện bán phá giá

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chính sách thương mại của Trung Quốc đã phải đối mặt với nhiều vụ kiện bán phá giá từ các quốc gia khác. Những vụ kiện này không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế Trung Quốc mà còn đặt ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Việc hiểu rõ về các đối sách mà Trung Quốc áp dụng sẽ giúp Việt Nam có những bài học quý giá trong việc ứng phó với các vụ kiện tương tự.

1.1. Khái quát về kiện bán phá giá và tác động đến Trung Quốc

Kiện bán phá giá là hành động mà một quốc gia kiện một quốc gia khác vì lý do hàng hóa xuất khẩu có giá thấp hơn giá trị thông thường. Điều này đã dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế Trung Quốc, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất khẩu.

1.2. Các biện pháp mà Trung Quốc áp dụng để đối phó

Trung Quốc đã áp dụng nhiều biện pháp như tăng cường nghiên cứu và phát triển, cải thiện chất lượng sản phẩm, và hợp tác với các quốc gia khác để giảm thiểu tác động của các vụ kiện bán phá giá.

II. Vấn đề và thách thức trong kiện bán phá giá tại Trung Quốc

Trung Quốc đã phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc ứng phó với các vụ kiện bán phá giá. Những thách thức này không chỉ đến từ các quy định pháp lý mà còn từ sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường quốc tế. Việc hiểu rõ những vấn đề này sẽ giúp Việt Nam có cái nhìn sâu sắc hơn về tình hình hiện tại.

2.1. Nguyên nhân dẫn đến kiện bán phá giá đối với Trung Quốc

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến kiện bán phá giá là do sự chênh lệch giá giữa hàng hóa xuất khẩu và giá trị thông thường trên thị trường nội địa. Điều này thường xảy ra do các chính sách hỗ trợ của chính phủ.

2.2. Hậu quả của kiện bán phá giá đối với nền kinh tế

Các vụ kiện bán phá giá đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế Trung Quốc, bao gồm giảm sút xuất khẩu, mất thị trường và ảnh hưởng đến uy tín của các doanh nghiệp.

III. Phương pháp và giải pháp của Trung Quốc trong kiện bán phá giá

Trung Quốc đã áp dụng nhiều phương pháp và giải pháp để đối phó với các vụ kiện bán phá giá. Những giải pháp này không chỉ giúp bảo vệ nền kinh tế mà còn tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước phát triển bền vững.

3.1. Tăng cường hợp tác quốc tế

Trung Quốc đã chủ động tham gia vào các hiệp định thương mại quốc tế để bảo vệ quyền lợi của mình và giảm thiểu rủi ro từ các vụ kiện bán phá giá.

3.2. Cải cách chính sách thương mại

Việc cải cách chính sách thương mại nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu là một trong những giải pháp quan trọng mà Trung Quốc đã thực hiện.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu từ Trung Quốc

Các nghiên cứu cho thấy rằng những đối sách mà Trung Quốc áp dụng trong việc đối phó với kiện bán phá giá đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Những bài học này có thể được áp dụng cho Việt Nam trong việc xây dựng chính sách thương mại hiệu quả.

4.1. Kết quả từ các vụ kiện bán phá giá

Nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đã thành công trong việc giảm thiểu thiệt hại từ các vụ kiện bán phá giá thông qua việc cải thiện chất lượng sản phẩm và tăng cường marketing.

4.2. Bài học cho Việt Nam từ kinh nghiệm của Trung Quốc

Việt Nam có thể học hỏi từ kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc xây dựng các chính sách phòng ngừa và ứng phó với kiện bán phá giá, từ đó bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu.

V. Kết luận và tương lai của đối sách chống bán phá giá

Tương lai của các đối sách chống bán phá giá tại Trung Quốc sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm sự thay đổi trong chính sách thương mại toàn cầu và sự phát triển của nền kinh tế. Việt Nam cần theo dõi sát sao tình hình này để có những điều chỉnh kịp thời.

5.1. Dự báo về tình hình kiện bán phá giá trong tương lai

Dự báo rằng số lượng vụ kiện bán phá giá sẽ tiếp tục gia tăng trong tương lai, đặc biệt là trong bối cảnh cạnh tranh thương mại ngày càng khốc liệt.

5.2. Đề xuất chính sách cho Việt Nam

Việt Nam cần xây dựng các chính sách thương mại linh hoạt và hiệu quả để ứng phó với các vụ kiện bán phá giá, từ đó bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I NHỮNG LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ I. Những lí luận cơ bản về bán phá giá. Trong thương mại quốc tế, hành động bán phá giá có lẽ xuất hiện từ rất lâu trước khi người ta định nghĩa được từ “ bán phá giá”. Vào thế kỷ 16-17, đó là một trong những biện pháp chiếm đoạt thị trường của đế quốc Anh, về sau bán phá giá được một loạt các nước TBCN mới nổi bắt chước thực hiện, nên tạo ra cản trở vô cùng lớn đến sự phát triển bình thường của thương mại thế giới.

Bán phá giá được sử dụng ngày một mạnh mẽ đã gây không ít tổn thất cho nền sản xuất của các nước nhập khẩu. Do vậy, đầu thế kỷ 20 các nước phương tây đã liên tiếp soạn thảo luật chống bán phá giá của nước mình. Canada là nước đầu tiên cho ra đời bộ luật chống bán phá giá vào năm 1904. Nước Mỹ ngay trong Luật thuế quan 1916 đã có điều khoản liên quan đến chống bán phá giá.

Chính các luật chống bán phá giá của các nước và thực tiễn thương mại đã tạo tiền đề cần thiết cho sự hình thành một bộ luật quốc tế thống nhất về chống bán phá giá. Năm 1948, hiệp định chung về thuế quan và thương mại- GATT- được kí kết với nguyên tắc cơ bản là cạnh tranh công bằng, nhấn mạnh vào thúc đẩy tự do hoá thương mại toàn cầu. Mà việc phản đối sử dụng các hành động cạnh tranh bất bình đẳng như bán phá giá là điều thiết yếu để thực hiện được tiến trình này. Nội dung chống bán phá giá đã được đề cập tới trong điều VI của GATT.

Tuy nhiên, điều VI GATT là một điều khoản mang tính quy định, muốn áp dụng vào thực tiễn cần phải có một bộ luật quy định cụ thể hơn. Trên cơ sở đó, ở hiệp Kenedy (1964-1967) các bên đã kí kết "Hiệp định chống bán phá giá ", hiệp Tokyo (1973-1979) tiếp tục đưa ra quy tắc chung về chống bán phá giá, đến hiệp Urugoay (1986- 1994) vấn đề về bán phá giá và chống bán phá giá đã được thống nhất khi các L­u LÖ Quyªn – Trung 1 – K38E 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kho¸ luËn tèt nghiÖp quốc gia thành viên WTO cùng nhau đặt bút ký vào "Hiệp định thực thi điều VI của hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994" hay còn gọi là "Hiệp định chống bán phá giá của WTO". Hiệp định trở thành quy phạm luật quốc tế có hiệu lực với tất cả các thành viên WTO. Khi một nước tiến hành kiện nước khác bán phá giá thì không chỉ áp dụng luật chống bán phá giá của chính nước đó mà đồng thời còn phải tuân thủ các quy tắc chống bán phá giá của WTO, giữa luật của quốc gia và quy tắc chống bán phá giá không được có sự mâu thuẫn.

Tuy nhiên, do hiệp định có nhiều kẽ hở về vấn đề tự vệ và việc đối phó với sự lẩn tránh các biện pháp chống bán phá giá nên trong thực tiễn thương mại hiện nay chống bán phá giá đang bị các nước, đặc biệt là các nước phát triển lợi dụng để bảo hộ cho nền sản xuất trong nước. Do đó, đối với một doanh nghiệp xuất khẩu của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới khi đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá thì một vấn đề không thể bỏ qua là phải nghiên cứu về luật chống bán phá giá của các quốc gia, các thị trường mà mình muốn thâm nhập để tránh nguy cơ bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá. Trong các luật chống bán phá giá thì không thể không nhắc đến " Hiệp định thực thi điều VI GATT 1994", cùng luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu, nước và khu vực thị trường lớn nhất thế giới. Ta sẽ lần lượt nghiên cứu vấn đề bán phá giá và chống bán phá giá được đề cập tới trong các luật trên.

1/ Khái niệm về bán phá giá. Theo điều VI của GATT, bán phá giá là mang sản phẩm của một nước này sang bán ở nước khác với một mức giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó khi bán ở thị trường nội địa của nước xuất khẩu. Như vậy, điểm cốt lõi của bán phá giá không phải là bán với giá rẻ mà chính là sự khác biệt về giá giữa giá xuất khẩu với giá bán trên thị trường nội địa. Một nước có thể xuất khẩu hàng hoá sang nước khác với giá rẻ hơn hàng hoá cùng loại đang bán trên thị trường nước nhập khẩu, nếu giá bán không thấp hơn giá bán của hàng hóa trên thị trường nước xuất khẩu thì hành động L­u LÖ Quyªn – Trung 1 – K38E 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kho¸ luËn tèt nghiÖp đó không phải là bán phá giá.Ta cũng có thể thấy rõ điều này qua khái niệm về bán phá giá được quy định trong luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ hay Liên minh Châu Âu.Theo luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ thì một hàng hoá được xem là bán phá giá nếu như giá xuất khẩu trung bình được điều chỉnh thấp hơn giá bán trung bình được điều chỉnh của hàng hoá tương tự hoặc cùng loại tại thị trường trong nước hoặc thị trường của nước thứ ba.

Vậy việc xác định bán phá giá được thực hiện bằng cách so sánh giá xuất khẩu của sản phẩm đó với "giá trị công bằng" do Bộ thương mại Hoa Kỳ áp đặt. Còn theo luật chống bán phá giá của liên minh Châu Âu, bán phá giá được phân biệt với một hành vi đơn giản là bán hạ giá, vốn là kết quả của việc giảm chi phí hay tăng năng suất. Tiêu chí cơ bản trong lĩnh vực này, trên thực tế, là không có mối quan hệ giữa giá của sản phẩm xuất khẩu và giá trên thị trường của nước nhập khẩu mà là mối quan hệ giữa giá của sản phẩm xuất khẩu và giá trị thông thường. Do đó, một sản phẩm bị coi là phá giá nếu như giá xuất khẩu của nó vào Cộng đồng thấp hơn giá so sánh của sản phẩm tương tự trong quá trình kinh doanh thông thường trong phạm vi của nước xuất khẩu.

Nhìn chung, các luật chống bán phá giá đều có những quy định tương tự trong đó xác định một hàng hoá bán phá giá thông qua so sánh giữa giá xuất khẩu và giá thông thường. Vậy để hiểu rõ hơn về khái niệm bán phá giá, ta sẽ đi sâu nghiên cứu về giá xuất khẩu và giá trị thông thường.1/ Giá trị thông thường. Theo hiệp định chống bán phá giá năm 1994 của WTO thì giá trị thông thường nói chung là giá của sản phẩm tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu đến người tiêu dùng trong quá trình thương mại thông thường. Tuy nhiên, một trong những vấn đề phức tạp nhất trong điều tra bán phá giá là liệu việc tiêu thụ trên thị trường nội địa có được "thực hiện trong quá trình thương mại thông thường" hay không? Một trong những cơ sở để xác L­u LÖ Quyªn – Trung 1 – K38E 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kho¸ luËn tèt nghiÖp định điều đó là so sánh giá bán trên thị trường nội địa với chi phí.

Hiệp định quy định những trường hợp cụ thể mà việc tiêu thụ hàng hoá ở thị trường nội địa với giá thấp hơn chi phí của quá trình sản xuất sẽ không được coi là " thực hiện trong quá trình thương mại bình thường". Theo điều 2 thì đó là khi hàng hoá được bán với giá thấp hơn chi phí cố định, chi phí biến đổi cộng chi phí hành chính, chi phí bán hàng, chi phí khác trong khoảng thời gian kéo dài (thường là một năm trong bất kì trường hợp nào cũng không ít hơn sáu tháng) và với một số lượng đáng kể. Số lượng hàng bán được thực hiện với số lượng đáng kể khi: (1) giá bán bình quân gia quyền thấp hơn chi phí bình quân gia quyền; (2) chiếm 20% lượng tiêu thụ được sử dụng để xác định giá trị thông thường. Và số lượng hàng bán thấp hơn chi phí cũng không được tính đến khi xác định giá trị thông thường khi chúng không cho phép thu hồi chi phí trong thời gian hợp lí.

Song nếu hàng bán thấp hơn chi phí nhưng cao hơn chi phí bình quân gia quyền trong suốt quá trình điều tra thì hiệp định công nhận là cho phép thu hồi chi phí trong khoảng thời gian hợp lí. Tuy nhiên, việc loại trừ những khối lượng hàng bán thấp hơn chi phí có thể tạo ra một mức độ khối lượng bán hàng không đủ để xác định giá trị thông thường dựa trên giá cả thị trường nội địa. Điều này sẽ không cho phép một sự so sánh chính xác giữa giá thị trường nội địa và giá xuất khẩu. Vì vậy, trong hiệp định quy định rằng khối lượng hàng bán ở thị trường nội địa phải bằng ít nhất 5% lượng xuất khẩu của sản phẩm đó tại thị trường nước nhập khẩu, tuy nhiên một tỉ lệ thấp hơn "nên" được chấp nhận nếu khối lượng hàng bán ở thị trường nội địa ở tầm cỡ đủ để đưa ra sự so sánh công bằng.

Trong trường hợp việc bán hàng ở thị trường nước xuất khẩu không phải là cơ sở chính xác, ví dụ không có sản phẩm tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu hoặc khối lượng bán hàng ở thị trường nội địa thấp hơn 5% khối lượng xuất khẩu, thì việc xác định giá trị thông thường sẽ căn cứ vào: L­u LÖ Quyªn – Trung 1 – K38E 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kho¸ luËn tèt nghiÖp  Giá mà sản phẩm được bán cho nước thứ ba. ()  Trị giá cấu thành của sản phẩm. () (): Giá đó được xác định là giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự khi xuất khẩu đến nước thứ ba thích hợp, miễn là giá đó được coi là tiêu biểu. Hiệp định không chỉ rõ bất cứ tiêu chuẩn nào để xác định nước thứ ba như thế nào là thích hợp.

(): Trị giá cấu thành được xây dựng gồm ba bộ phận:  Chi phí sản xuất ( nguyên vật liệu, lao động, chi phí quản lí sản xuất )  Chi phí quản lí và bán hàng nội địa.  Một giới hạn lãi hợp lí. Ngoài ra, khi sản phẩm không được nhập trực tiếp từ nước sản xuất mà được xuất khẩu từ một nước trung gian, hiệp định quy định rằng giá trị thông thường sẽ được xác định trên cơ sở khối lượng bán hàng trên thị trường nước xuất khẩu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ