Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế khi đóng góp 21% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), 29,4% giá trị sản xuất công nghiệp và 30% tổng thu ngân sách cả nước. Tuy nhiên, hệ thống quản trị hành chính cấp huyện trong giai đoạn dài bộc lộ nhiều điểm nghẽn về cơ cấu tổ chức và tính liên thông đô thị. Vấn đề cốt lõi được đặt ra là hoàn thiện mô hình cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện nhằm thích ứng với tiến trình công nghiệp hóa và cải cách hành chính theo tinh thần Nghị quyết số 17-NQ/TW năm 2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Mục tiêu cụ thể của công trình là phân tích cơ sở lý luận và pháp lý, đánh giá thực trạng tổ chức, hoạt động của Ủy ban nhân dân (UBND) cùng các cơ quan chuyên môn cấp huyện, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới gắn liền với việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND).

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 24 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trọng tâm thời gian được xác định từ năm 2003 đến năm 2009, thời điểm Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 phát huy hiệu lực và Nghị quyết số 26/2008/QH12 bắt đầu được triển khai thực tiễn.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để tinh gọn bộ máy từ 25 phòng ban thời kỳ trước xuống còn 10 đến 12 cơ quan chuyên môn theo Nghị định số 14/2008/NĐ-CP. Nghiên cứu tạo tiền đề nâng cao hiệu năng quản trị công cho toàn bộ 24 quận huyện và cải thiện chất lượng phục vụ nhân dân trên địa bàn đô thị đặc biệt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phân quyền và phân cấp quản lý hành chính nhà nước kết hợp cùng lý thuyết quản trị công hiện đại (New Public Management) và học thuyết Mác - Lênin về xây dựng bộ máy nhà nước. Khung phân tích tập trung làm rõ mối quan hệ giữa tính tập trung thống nhất của cơ quan hành pháp trung ương với quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương.

Mô hình nghiên cứu phân định rõ 5 khái niệm nòng cốt:

  1. Cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện: Cơ quan chấp hành và điều hành có thẩm quyền chung tại địa hạt hành chính cấp hai.
  2. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND: Bộ phận tham mưu chuyên trách, thực hiện quản lý ngành và lĩnh vực tại địa phương.
  3. Nguyên tắc song trùng trực thuộc: Mối quan hệ chỉ đạo hai chiều theo chiều ngang với UBND cùng cấp và theo chiều dọc với cơ quan quản lý chuyên ngành cấp trên.
  4. Chính quyền đô thị: Mô hình tổ chức quản lý tập trung, thống nhất, không chia cắt không gian kinh tế kỹ thuật hạ tầng.
  5. Cơ chế một cửa, một dấu: Phương thức giải quyết thủ tục hành chính tập trung nhằm giảm thiểu thời gian và chi phí cho tổ chức, cá nhân.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống văn bản pháp lý quốc gia qua các thời kỳ lịch sử (Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992; các Luật Tổ chức năm 1962, 1983, 1989, 1994, 2003; Nghị quyết số 26/2008/QH12; Nghị định số 107/2004/NĐ-CP và Nghị định số 14/2008/NĐ-CP) kết hợp báo cáo thống kê thực tế từ Sở Nội vụ Thành phố Hồ Chí Minh và UBND Quận 12.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 24 đơn vị hành chính cấp huyện (19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành) và 322 xã, phường, thị trấn tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp chọn mẫu điển hình toàn diện được áp dụng nhằm so sánh đối chiếu giữa khu vực đô thị hóa với địa bàn nông thôn chuyển tiếp.

Tác giả sử dụng phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh lịch sử, phương pháp tổng hợp và thống kê mô tả. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp bóc tách rành mạch thẩm quyền hành chính qua từng giai đoạn, đồng thời đánh giá khách quan tính tương thích giữa cơ cấu tổ chức với thực tế phát triển kinh tế xã hội. Timeline nghiên cứu bao quát tiến trình lịch sử từ năm 1945 đến năm 2009, đi sâu vào các chuyển biến giai đoạn 2003 - 2009.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo UBND cấp quận, huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh đạt chuẩn rất cao. Số liệu thống kê cho thấy 96,19% cán bộ thành viên UBND có trình độ Đại học và trên Đại học, tỷ lệ có trình độ trung cấp và sơ cấp chỉ chiếm 3,81%.

Thứ hai, cơ cấu tổ chức bộ máy UBND cấp huyện được kiện toàn thống nhất theo Nghị định số 107/2004/NĐ-CP với số lượng từ 7 đến 9 thành viên. Tại 19 quận và 3 huyện lớn (Bình Chánh, Hóc Môn, Củ Chi), cơ cấu gồm Chủ tịch phụ trách chung, 3 Phó Chủ tịch phụ trách kinh tế, quản lý đô thị, văn hóa xã hội cùng 5 Ủy viên phụ trách công an, quân sự, văn phòng, thanh tra và tổ chức. Riêng 2 huyện Nhà Bè và Cần Giờ được bố trí 2 Phó Chủ tịch và 6 Ủy viên.

Thứ ba, việc sắp xếp lại cơ quan chuyên môn theo Nghị định số 14/2008/NĐ-CP đã tinh gọn đáng kể đầu mối, giảm từ 25 phòng ban ở giai đoạn 1983 - 1986 xuống còn 10 phòng ban thống nhất và 2 phòng ban chuyên thù theo loại hình địa bàn (Phòng Quản lý đô thị, Phòng Kinh tế tại các quận; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Công Thương tại các huyện).

Thứ tư, công tác triển khai thí điểm không tổ chức HĐND theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 và Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 được thực hiện đồng loạt tại 24 quận, huyện và 259 phường của Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 25/4/2009, đóng góp vào quy mô thí điểm tại 67 huyện, 32 quận và 483 phường trên 10 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong cả nước.

Thảo luận kết quả

Trong giai đoạn bao cấp trước đây, theo Quyết định số 152-CP năm 1981 và Nghị định số 86-HĐBT năm 1983, cấp huyện được định hình như một pháo đài kinh tế, trực tiếp chỉ đạo sản xuất kinh doanh khiến biên chế phình to từ 100 đến 120 cán bộ trên mỗi huyện. Bước sang nền kinh tế thị trường, việc thu hẹp chức năng hành chính vào quản lý nhà nước thuần túy đã tạo cơ sở giảm hơn 50% số lượng phòng ban trung gian.

Dữ liệu tổ chức bộ máy có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ cột so sánh số lượng cơ quan chuyên môn cấp huyện qua các thời kỳ: từ 16 ban năm 1981 tăng vọt lên 25 phòng ban năm 1986, sau đó giảm còn 10 đến 12 phòng chuyên môn theo Nghị định số 14/2008/NĐ-CP. Đồng thời, bảng tổng hợp phân bố 24 quận huyện cho thấy sự khác biệt rõ rệt về mật độ dân số khi 19 quận nội thành chiếm 84,03% dân cư với 5,4 triệu người, trong khi 5 huyện ngoại thành chỉ chiếm 15,97% với gần 980.000 người.

Về mặt thể chế, kết quả nghiên cứu khẳng định quận và huyện thực chất là cấp trung gian điều hành. Việc duy trì HĐND quận, phường thời gian qua đã gây ra sự cắt khúc mệnh lệnh, làm chậm tiến độ ra quyết định hành chính từ cấp thành phố. Chuyển đổi UBND quận thành cơ quan hành chính đại diện là bước đột phá tất yếu để xây dựng chính quyền đô thị thông suốt.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Tái cấu trúc thẩm quyền và ban hành quy chế làm việc theo chế độ thủ trưởng đối với Chủ tịch UBND quận: Chuyển đổi căn bản phương thức làm việc từ tập thể biểu quyết sang đề cao trách nhiệm cá nhân người đứng đầu, mục tiêu rút ngắn 30% thời gian xử lý công văn giấy tờ; lộ trình hoàn thành trong quý 4 năm 2010 do Bộ Nội vụ chủ trì phối hợp cùng UBND Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Chuẩn hóa mạng lưới 10 đến 12 phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện: Xây dựng bản mô tả vị trí việc làm chi tiết, nâng tỷ lệ cán bộ chuyên môn được đào tạo đúng chuyên ngành lên mức 100% vào cuối năm 2012; giao Sở Nội vụ Thành phố Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm thẩm định và hướng dẫn các quận, huyện triển khai định kỳ hàng năm.

  3. Mở rộng và số hóa mô hình Một cửa, Một dấu tại 24 quận, huyện: Điện tử hóa 85% quy trình giải quyết hồ sơ nhà đất, xây dựng và đăng ký kinh doanh, cam kết giảm tối thiểu 50% thời gian chờ đợi của người dân và doanh nghiệp; thực hiện hoàn tất giai đoạn 1 trước tháng 12 năm 2011 do UBND 24 quận, huyện trực tiếp chỉ đạo.

  4. Đề xuất sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003: Kiến nghị Quốc hội phân định rành mạch địa hạt hành chính đô thị (quận, phường) với đơn vị hành chính nông thôn (huyện, xã), tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho mô hình chính quyền đô thị; hoàn thành soạn thảo văn bản lập pháp trong giai đoạn 2011 - 2013 do Ủy ban Pháp luật của Quốc hội và Chính phủ đảm nhiệm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ tham mưu công tác tổ chức và cải cách hành chính tại các Sở Nội vụ: Tiếp cận hệ thống luận cứ khoa học và số liệu thực tiễn để xây dựng các đề án sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và phân cấp quản lý tại địa phương.

  2. Lãnh đạo và công chức đang công tác tại UBND các quận, huyện: Nắm vững quy chế vận hành, thẩm quyền pháp lý và cách thức điều hành cơ quan chuyên môn theo cơ chế một cửa hiện đại, nâng cao hiệu suất xử lý công vụ.

  3. Giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Luật Hành chính, Luật Hiến pháp: Sử dụng công trình làm nguồn học liệu chuyên sâu phục vụ giảng dạy, biên soạn giáo trình và phát triển các đề tài nghiên cứu về quản trị địa phương.

  4. Học viên cao học và sinh viên ngành Luật, Quản lý công: Tham khảo phương pháp tiếp cận đa chiều kết hợp nghiên cứu quy phạm lập pháp với khảo sát thực chứng trong quá trình làm khóa luận, luận văn.

Câu hỏi thường gặp

  1. Cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện gồm những bộ phận nào? Theo quy định pháp luật hiện hành, cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện bao gồm Ủy ban nhân dân cấp huyện và các cơ quan chuyên môn (phòng, ban) trực thuộc UBND. Đây là các thiết chế thực thi quyền hành pháp, trực tiếp quản lý mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, an ninh trật tự tại địa phương.

  2. Nguyên tắc song trùng trực thuộc của phòng chuyên môn cấp huyện vận hành như thế nào? Cơ quan chuyên môn cấp huyện chịu sự lãnh đạo toàn diện về tổ chức bộ máy, biên chế và công tác từ UBND cấp huyện (theo chiều ngang), đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về nghiệp vụ chuyên ngành từ Sở chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh (theo chiều dọc) căn cứ Điều 129 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.

  3. Tại sao Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND tại 24 quận, huyện? Thí điểm theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 xuất phát từ đặc trưng đô thị đòi hỏi quản lý tập trung và hạ tầng liên thông. Huyện và quận là cấp trung gian, việc không tổ chức HĐND giúp xóa bỏ tầng nấc phê duyệt trùng lặp, đẩy nhanh tốc độ truyền đạt mệnh lệnh hành chính và tinh gọn ngân sách.

  4. Cơ cấu thành viên UBND cấp huyện được bố trí ra sao? Căn cứ Nghị định số 107/2004/NĐ-CP, UBND cấp huyện có từ 7 đến 9 thành viên gồm Chủ tịch phụ trách chung, 2 đến 3 Phó Chủ tịch phụ trách các khối ngành kinh tế, đô thị, văn hóa và các Ủy viên phụ trách công an, quân sự, văn phòng, thanh tra, tổ chức.

  5. Cơ chế một cửa, một dấu tại UBND cấp huyện mang lại lợi ích gì? Cơ chế này quy tụ các thủ tục cấp phép về một đầu mối duy nhất, chuẩn hóa thời gian trả kết quả, loại bỏ hoàn toàn các khâu trung gian phiền hà. Qua đó, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất và giấy phép kinh doanh được rút ngắn đáng kể, gia tăng mức độ hài lòng của nhân dân.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và tiến trình phát triển lập pháp về cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện từ Sắc lệnh số 63 năm 1945 đến Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
  • Khẳng định tính đúng đắn của việc tinh giảm đầu mối cơ quan chuyên môn từ 25 phòng ban thời kỳ bao cấp xuống 10 đến 12 phòng theo Nghị định số 14/2008/NĐ-CP.
  • Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ công chức lãnh đạo cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh với 96,19% đạt trình độ đại học và trên đại học.
  • Đánh giá sâu sắc kết quả bước đầu từ việc thí điểm không tổ chức HĐND tại 24 quận, huyện nhằm hiện thực hóa mô hình chính quyền đô thị.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi với lộ trình hoàn thiện thể chế từ năm 2010 đến 2015.

Các cơ quan quản lý nhà nước và nhà nghiên cứu cần tiếp tục theo dõi, đánh giá số liệu thực nghiệm sau thí điểm để hoàn thiện mô hình quản trị địa phương văn minh, hiện đại.