Tổng quan luận án

Công tác kế hoạch hóa phát triển (KHHPT) là một công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước nhằm định hướng và điều hành các mặt phát triển kinh tế - xã hội (KTXH). Trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung mệnh lệnh; các chỉ tiêu pháp lệnh do trung ương ban hành gắn liền với việc phân bổ trực tiếp các nguồn lực vật tư, nhân lực và tài chính. Khi Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phương thức kế hoạch hóa từng bước chuyển sang kế hoạch hóa định hướng phát triển. Tuy nhiên, thực tiễn quản lý xuất hiện một nghịch lý: nhà nước vẫn tiến hành lập kế hoạch phát triển KTXH toàn diện trên mọi lĩnh vực, nhưng chỉ trực tiếp kiểm soát và phân bổ một phần nguồn lực xã hội thông qua ngân sách nhà nước (NSNN). Phần lớn các nguồn lực còn lại nằm ở khu vực tư nhân và xã hội mà nhà nước chỉ có thể tác động gián tiếp thông qua cơ chế, chính sách và đầu tư công. Cùng với xu hướng phân cấp, trao quyền từ trung ương xuống địa phương, yêu cầu đặt ra cho chính quyền địa phương ở cả ba cấp (tỉnh, huyện, xã) là phải đổi mới công tác lập kế hoạch phát triển KTXH nhằm gắn kết chặt chẽ giữa mục tiêu phát triển với khả năng bảo đảm của các nguồn lực tài chính (NLTC). Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các nghiên cứu và mô hình thí điểm trước đây tại Việt Nam mới chỉ dừng lại ở các đề xuất nguyên tắc chung hoặc các dự án tài trợ quốc tế quy mô hẹp, thiếu một khung lý thuyết hệ thống và một mô hình quy trình lập kế hoạch đồng bộ, khả thi ở các cấp địa phương trong môi trường thể chế hiện hành.

Câu hỏi nghiên cứu trọng tâm của luận án được xác định: Đâu là mô hình lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương gắn với nguồn lực tài chính phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường và điều kiện thể chế hiện nay ở Việt Nam?

Để giải quyết câu hỏi nghiên cứu trên, tác giả xác định 6 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác lập kế hoạch và các mô hình lập kế hoạch gắn với nguồn lực tài chính đang được triển khai ở Việt Nam.
  2. Làm rõ các điều kiện cần và đủ để gắn kết lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với nguồn lực tài chính ở địa phương trong điều kiện nền kinh tế thị trường tại Việt Nam.
  3. Khái quát hóa bối cảnh thể chế phân cấp, trao quyền từ trung ương xuống địa phương và những nỗ lực hiện hành của chính phủ nhằm tạo thuận lợi cho quá trình đổi mới công tác lập kế hoạch gắn với nguồn lực tài chính tại Việt Nam.
  4. Phân tích, đánh giá thực trạng công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch nguồn lực tài chính hiện nay ở địa phương Việt Nam, từ đó rút ra các bất cập cơ bản và nguyên nhân khiến việc gắn kế hoạch với nguồn lực tài chính ở địa phương chưa chặt chẽ.
  5. Đề xuất mô hình đổi mới lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương theo hướng gắn kết chặt chẽ hơn với nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo tính khả thi của kế hoạch.
  6. Đề xuất các khuyến nghị nhằm đảm bảo mô hình đổi mới lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn kết với nguồn lực tài chính ở địa phương được duy trì bền vững và phát huy tác dụng trong thực tế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác lập kế hoạch phát triển KTXH ở cấp địa phương. Luận án không đi sâu vào các khâu tổ chức thực hiện và theo dõi, đánh giá (TDĐG) độc lập mà chỉ xem xét chúng trong mối liên hệ hỗ trợ nâng cao chất lượng khâu lập kế hoạch; đồng thời không nghiên cứu kế hoạch phát triển ngành riêng biệt mà coi đây là kế hoạch hành động thực hiện nhiệm vụ của kế hoạch phát triển KTXH lãnh thổ.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu công tác lập kế hoạch ở ba cấp địa phương (tỉnh, huyện, xã) tại Việt Nam. Dữ liệu khảo sát thực tế được thu thập tại một số địa phương đại diện cho các vùng miền gồm Cao Bằng, Hòa Bình, Ninh Bình, Quảng Trị, Lai Châu, Kon Tum, Quảng Nam, Sóc Trăng.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng công tác lập kế hoạch phát triển KTXH 5 năm và hàng năm giai đoạn 2005–2010 (từ khi Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002 có hiệu lực). Mô hình đề xuất được định hướng áp dụng cho giai đoạn 2011–2015 và hoàn thiện trong giai đoạn 2016–2020.
  • Phạm vi nội dung: Trọng tâm nghiên cứu là nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước và các nguồn tài chính được quản lý qua ngân sách, đặt trong tổng thể các nguồn lực tài chính xã hội.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân tích hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai mạch nội dung chính: kế hoạch hóa trong khu vực công và sự gắn kết giữa kế hoạch với nguồn lực tài chính.

Về kế hoạch hóa trong khu vực công, các công trình quốc tế đã phản ánh quá trình chuyển đổi nhận thức lý luận:

  • R. Ackoff (1970) trong A Concept of Corporate Planning và R. Alexandre (2005) trong Why Planning Vs. Markets Is An Oxymoron: Asking The Right Question đưa ra các định nghĩa nền tảng về kế hoạch hóa như một quá trình thiết kế tương lai và tổ chức hành động.
  • Max Weber (1958) trong Bureaucracy phân tích mô hình hành chính quan liêu truyền thống, gắn liền với phương thức kế hoạch hóa dài hạn (long-range planning). H. Ansoff (1984) trong Implanting Strategic Management chỉ ra hạn chế của phương thức kế hoạch hóa dài hạn truyền thống là giả định môi trường ổn định, áp đặt chỉ tiêu từ trên xuống và thiếu linh hoạt.
  • R. Mulgan (2009) trong Public Servant and Politics chỉ ra sự phê phán đối với mô hình hành chính quan liêu, tạo cơ sở cho sự ra đời của mô hình Quản lý công mới (New Public Management - NPM) với trọng tâm chuyển từ "cai trị" sang "phục vụ" và quản lý dựa trên kết quả.
  • A. Wildavsky (1973), G. Steiner (1979), J. Bryson (1988, 1995), M. Porter (1991), T. Marx (1990), P. May (2001) và R. Denhardt (1985) đã nghiên cứu việc vận dụng kế hoạch hóa chiến lược từ khu vực tư nhân sang khu vực công, làm rõ sự khác biệt khi khu vực công phải xử lý đa mục tiêu và thỏa hiệp nhiều lợi ích xã hội.
  • B. Barry (1998), C. Ernstthal (1997), J. Gargan (1993), C. Rusaw (2007), H. Mintzberg (1994), Vinzant (1996), Streib (1999), McIntyre-Mills (2003, 2006) và C. Sharp (2004) xác định các yếu tố đảm bảo thành công của kế hoạch hóa chiến lược gồm: cam kết của lãnh đạo, sự tham gia của cộng đồng, quản lý kết quả và sự gắn kết với ngân sách.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu trong cuốn sách Bàn về công tác KHH ở nước ta trong thời kỳ mới (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2008) của Nguyễn Đình Hương, Vũ Ngọc Phùng, Đặng Đức Đạm, Nguyễn Quang Thái, Nguyễn Bửu Quyền, Lê Viết Thái, cũng như nghiên cứu của Trần Du Lịch (2010) và Ngô Thắng Lợi (2009) đã tập trung tổng kết các ưu điểm và hạn chế của mô hình kế hoạch hóa tập trung, khẳng định sự cần thiết phải đổi mới kế hoạch hóa định hướng phát triển ở tầm vĩ mô. Cuốn sách Đổi mới công tác KHH trong tiến trình hội nhập (2007) với các bài viết của Nguyễn Đình Dương, Đan Đức Hiệp, Nguyễn Hải Hồ và Vũ Cương bước đầu nêu ra thực trạng và các xu hướng đổi mới kế hoạch ở cấp địa phương.

Về gắn kết kế hoạch với nguồn lực tài chính:

  • S. Daniel (1999) trong Managing Government Expenditure phê phán phương thức lập ngân sách truyền thống theo đầu vào do thiếu gắn kết với mục tiêu phát triển. S. Campos (1996) tổng kết ba mục tiêu trọng yếu của quản lý chi tiêu công: kỷ luật tài khóa tổng thể, ưu tiên hóa chiến lược và hiệu quả hoạt động.
  • M. Holmes (1998) trong Public Expenditure Management Handbook của Ngân hàng Thế giới đề xuất mô hình Khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF) nhằm gắn kết chính sách, kế hoạch và ngân sách. R. Hughes (2008) đánh giá các điều kiện triển khai MTEF tại các nước đang phát triển.
  • Các báo cáo tổng kết dự án tại Việt Nam như Dự án phát triển lâm nghiệp xã hội Sông Đà (SFDP, 2004), Chương trình Giảm nghèo Chia Sẻ Việt Nam - Thụy Điển (2008), Dự án RUDEP/ISP tại Quảng Ngãi, Dự án VOICE tại Bắc Kạn, HPRP tại Hòa Bình, SPAR-CB tại Cao Bằng đã thử nghiệm phương pháp lập kế hoạch có sự tham gia gắn với phân bổ ngân sách xã/thôn.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các nghiên cứu trong nước trước đó chủ yếu dừng lại ở phân tích nguyên tắc lý luận chung hoặc tổng kết các dự án tài trợ riêng lẻ mang tính thí điểm cục bộ, nguồn lực phụ thuộc vào nhà tài trợ nên thiếu tính bền vững. Chưa có công trình nào xây dựng một khung lý thuyết hoàn chỉnh để đánh giá mức độ gắn kết giữa kế hoạch phát triển KTXH và nguồn lực tài chính ở cả ba cấp địa phương, đồng thời thiết kế một quy trình kỹ thuật lồng ghép phù hợp với hệ thống thể chế và năng lực hành chính hiện hành tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết quản lý công hiện đại, kết hợp mô hình Quản lý công mới (NPM) và phương thức quản lý theo kết quả (Results-Based Management). Luận án xác định chuỗi logic kết quả gồm các mắt xích: Đầu vào (Inputs) $\rightarrow$ Hoạt động (Activities) $\rightarrow$ Đầu ra (Outputs) $\rightarrow$ Kết quả (Outcomes) $\rightarrow$ Tác động (Impacts). Sự gắn kết giữa kế hoạch phát triển KTXH và nguồn lực tài chính được phân tích thông qua việc xác lập khung lý thuyết gồm 4 điều kiện cần và 4 điều kiện đủ.

Nhóm điều kiện Các yếu tố cấu thành theo khung phân tích của luận án
Điều kiện cần (Thể hiện qua quy trình, nội dung và phương pháp) 1. Tính chiến lược của kế hoạch
2. Sự tham gia của các bên liên quan
3. Tính ưu tiên hóa trong phân bổ và sử dụng nguồn lực
4. Hệ thống theo dõi và đánh giá (TDĐG)
Điều kiện đủ (Yếu tố môi trường và năng lực thực thi) 1. Tư duy và cam kết của đội ngũ lãnh đạo
2. Môi trường thể chế và khung khổ pháp lý
3. Cơ chế phối hợp và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan
4. Năng lực và động cơ khuyến khích của cán bộ lập kế hoạch

Về khái niệm nguồn lực tài chính, luận án tiếp cận mô hình phân loại 5 nguồn lực tài chính của Doãn Văn Kính và cộng sự (2008):

Cấp độ Loại nguồn lực tài chính Phạm vi và thành phần cấu thành
Loại 1 Nền tài chính nhà nước Ngân sách nhà nước (ngân sách trung ương và ngân sách địa phương)
Loại 2 Tài chính công mở rộng Ngân sách nhà nước kết hợp các nguồn vốn ngoài ngân sách (phí, lệ phí để lại, đóng góp)
Loại 3 Tài chính then chốt Tài chính công mở rộng kết hợp hệ thống tín dụng, ngân hàng
Loại 4 Tổng NLTC trong nước Tài chính then chốt kết hợp tài chính của dân cư và doanh nghiệp tư nhân trong nước
Loại 5 Tổng NLTC toàn xã hội Tổng nguồn lực tài chính trong nước kết hợp các nguồn tài chính nước ngoài (FDI, ODA, vay nợ...)

Phương pháp nghiên cứu được luận án sử dụng:

  • Phương pháp luận chung: Vận dụng phép duy vật biện chứng, đối chiếu thực tiễn quản lý địa phương với khung lý thuyết chuẩn tắc về lập kế hoạch và ngân sách.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Sử dụng để phân tích các văn bản quy phạm pháp luật (Luật NSNN 2002, các chỉ thị, thông tư hướng dẫn kế hoạch và ngân sách), các báo cáo kế hoạch 5 năm và hàng năm của các tỉnh chọn lọc (Hòa Bình, Lai Châu, Phú Thọ, Ninh Bình...).
  • Phương pháp so sánh: So sánh bản chất kế hoạch hóa giữa hai cơ chế quản lý; so sánh sự khác biệt trong công tác lập kế hoạch giữa các cấp chính quyền và giữa các địa phương khảo sát.
  • Phương pháp điều tra thực địa bằng phỏng vấn bán cấu trúc: Phỏng vấn cán bộ quản lý thuộc HĐND, UBND, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Phòng Tài chính - Kế hoạch cấp huyện, cán bộ cấp xã, đại diện người dân và doanh nghiệp tại các địa bàn nghiên cứu.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo chính thức của Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Niên giám thống kê, các tài liệu dự án (PFMRP, CPRGS, SFDP, ISP, Chia Sẻ). Dữ liệu sơ cấp được tổng hợp qua khảo sát thực tế tại 8 tỉnh đại diện (Cao Bằng, Hòa Bình, Ninh Bình, Lai Châu, Quảng Trị, Kon Tum, Quảng Nam, Sóc Trăng).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở khoa học cho lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương gắn với nguồn lực tài chính

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về vai trò của kế hoạch hóa trong quản lý kinh tế của nhà nước, làm rõ sự biến chuyển từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kế hoạch hóa định hướng phát triển trong nền kinh tế thị trường. Luận án phân tích bối cảnh lịch sử công tác kế hoạch hóa tại Việt Nam qua hai giai đoạn trước và sau năm 1986, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự kém hiệu quả của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp và các bước chuyển đổi thể chế thông qua Chỉ thị 335/CT năm 1990.

Tiêu chí so sánh Cơ chế kế hoạch hóa tập trung Cơ chế kinh tế thị trường
Bản chất kế hoạch Mang tính chủ quan duy ý chí, không căn cứ vào tiềm lực và nhu cầu thực tế. Gắn với thị trường, dựa trên đánh giá thực trạng, quy luật khách quan và nhu cầu thực tế.
Mối quan hệ với thị trường Thay thế thị trường; phủ nhận các cân đối thị trường và quy luật cung - cầu. Hỗ trợ, bổ sung cho thị trường; khắc phục các khuyết tật và thất bại của thị trường.
Tính chất điều hành Mang tính mệnh lệnh, pháp lệnh trực tiếp; áp đặt chỉ tiêu và cấp phát hiện vật. Mang tính định hướng, dẫn dắt gián tiếp; sử dụng các chính sách đòn bẩy kinh tế.
Độ linh hoạt Kế hoạch tĩnh, cứng nhắc; việc điều chỉnh mang tính hình thức. Kế hoạch động, mềm dẻo; thích nghi và điều chỉnh linh hoạt theo biến động thị trường.

Chương 1 luận giải chi tiết sự cần thiết phải chuyển dịch mô hình quản trị công từ hành chính truyền thống sang Quản lý công mới (NPM), xác lập mô hình logic chuỗi kết quả và xây dựng khung phân tích 4 điều kiện cần và 4 điều kiện đủ cho việc gắn kết kế hoạch với nguồn lực tài chính tại cấp địa phương.

Chương 2: Thực trạng lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội gắn với nguồn lực tài chính ở các cấp địa phương Việt Nam hiện nay

Chương 2 đánh giá toàn diện khuôn khổ thể chế và thực tiễn lập kế hoạch phát triển KTXH và kế hoạch ngân sách tại địa phương giai đoạn 2006–2010. Luận án chỉ ra cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý còn phân tán giữa cơ quan kế hoạch (Sở/Phòng Kế hoạch và Đầu tư) và cơ quan tài chính (Sở/Phòng Tài chính). Phân tích quy trình thực tế cho thấy hiện tượng kế hoạch ngân sách "chạy trước" kế hoạch phát triển KTXH, dẫn đến việc phân bổ ngân sách mang tính kỹ thuật dòng tiền ngắn hạn mà không phục vụ trực tiếp cho các ưu tiên chính sách dài hạn.

Đánh giá thực trạng theo 4 điều kiện cần:

  • Tính chiến lược: Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm và hàng năm còn mang tính hình thức, hệ thống chỉ tiêu dàn trải, sao chép nhận định giữa các năm (dẫn chứng tại báo cáo kế hoạch của Lai Châu, Hòa Bình), dự báo thiếu căn cứ khoa học.
  • Sự tham gia: Quy trình lập kế hoạch vẫn mang nặng tính hành chính nội bộ khép kín, thiếu cơ chế thu hút sự tham gia thực chất của cộng đồng dân cư và khu vực doanh nghiệp tư nhân.
  • Tính ưu tiên hóa nguồn lực: Danh mục dự án đầu tư công bị phân tán, dàn trải; tồn tại sự chênh lệch lớn giữa "nhu cầu" đăng ký và "khả năng đáp ứng" của nguồn vốn đầu tư phát triển (dẫn chứng số liệu tại tỉnh Ninh Bình và huyện Lạc Sơn, Hòa Bình).
  • Hệ thống theo dõi, đánh giá: Chưa có bộ chỉ số đo lường kết quả đầu ra; công tác giám sát chủ yếu dừng ở việc kiểm tra giải ngân tài chính và tuân thủ thủ tục hành chính.

Đánh giá thực trạng theo 4 điều kiện đủ:

  • Tư duy của lãnh đạo địa phương còn chịu ảnh hưởng của nếp nghĩ kế hoạch hóa tập trung, trông chờ vào nguồn vốn cấp trên.
  • Môi trường thể chế phân cấp ngân sách còn bất cập do tính lồng ghép của hệ thống ngân sách nhà nước theo Luật NSNN 2002.
  • Thiếu cơ chế phối hợp chính thức và chia sẻ thông tin dữ liệu giữa ngành Kế hoạch & Đầu tư và ngành Tài chính.
  • Đội ngũ cán bộ làm công tác kế hoạch ở cấp huyện và xã vừa thiếu về số lượng vừa yếu về kỹ năng phân tích tài chính, kinh tế và phương pháp lập kế hoạch hiện đại.

Chương 3: Đổi mới lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương ở Việt Nam theo hướng gắn kết với nguồn lực tài chính

Chương 3 phân tích bài học kinh nghiệm từ mô hình thí điểm Khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF) ở cấp vĩ mô và mô hình lập kế hoạch có sự tham gia từ các dự án phát triển tại cấp cơ sở. Luận án chỉ ra các mô hình này cung cấp những kỹ thuật hữu ích nhưng cần được nội địa hóa để phù hợp với thể chế hành chính Việt Nam.

Tác giả đề xuất 7 quan điểm đổi mới công tác lập kế hoạch phát triển KTXH địa phương:

  1. Quan điểm sử dụng: Kế hoạch là công cụ định hướng, điều hành phát triển KTXH trên địa bàn lãnh thổ, phục vụ người dân và doanh nghiệp.
  2. Chức năng các loại kế hoạch: Phân định rõ chức năng định hướng chiến lược của kế hoạch 5 năm và chức năng hành động, điều hành cụ thể của kế hoạch hàng năm; phân biệt giữa kế hoạch phát triển KTXH tổng thể lãnh thổ và kế hoạch công tác của các sở, ban, ngành.
  3. Vai trò ngân sách trong lập kế hoạch NLTC: Ngân sách địa phương giữ vai trò vốn mồi dẫn dắt, kích hoạt các nguồn lực đầu tư toàn xã hội.
  4. Quy trình lập kế hoạch: Chuyển từ quy trình khép kín, từ trên xuống sang quy trình lồng ghép kết hợp từ dưới lên, có sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan.
  5. Nội dung bản kế hoạch: Xây dựng cấu trúc kế hoạch dựa trên logic chuỗi kết quả (mục tiêu $\rightarrow$ kết quả đầu ra $\rightarrow$ hoạt động $\rightarrow$ ngân sách phân bổ).
  6. Phương pháp lập kế hoạch: Kết hợp phân tích định tính và định lượng, sử dụng các công cụ phân tích ma trận ưu tiên và dự báo nguồn lực thực tế.
  7. Lộ trình đổi mới: Thực hiện theo nguyên tắc tăng dần, từng bước từ cấp xã lên cấp huyện và cấp tỉnh.

Mô hình quy trình kỹ thuật đề xuất gồm việc xác định trần ngân sách định hướng trước khi xây dựng danh mục ưu tiên, tích hợp kế hoạch hành động ngành vào kế hoạch KTXH tổng thể và thiết lập hệ thống chỉ số theo dõi kết quả.

Lộ trình triển khai được chia thành hai giai đoạn:

  • Giai đoạn 2011–2015: Thí điểm toàn diện mô hình đổi mới tại ba cấp địa phương; hoàn thiện cẩm nang hướng dẫn kỹ thuật; đào tạo nâng cao năng lực cán bộ và chuẩn bị các điều kiện thể chế pháp lý.
  • Giai đoạn 2016–2020: Thể chế hóa chính thức mô hình quy trình mới vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; củng cố, chuẩn hóa và duy trì bền vững công tác lập kế hoạch gắn kết với nguồn lực tài chính trên phạm vi cả nước.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận và thực tiễn:

Về mặt học thuật và lý luận:

  • Luận chứng khoa học về vai trò không thể thay thế của công cụ kế hoạch hóa phát triển trong nền kinh tế thị trường, làm rõ sự khác biệt bản chất giữa kế hoạch hóa tập trung mệnh lệnh và kế hoạch hóa định hướng phát triển.
  • Xây dựng khung lý thuyết đánh giá mức độ gắn kết giữa kế hoạch phát triển KTXH và nguồn lực tài chính tại cấp địa phương dựa trên phương thức quản lý theo kết quả, xác lập bộ tiêu chí gồm 4 điều kiện cần (chiến lược, tham gia, ưu tiên hóa, TDĐG) và 4 điều kiện đủ (tư duy cam kết, thể chế, phối hợp chia sẻ thông tin, năng lực cán bộ).
  • Làm rõ cấu trúc 5 tầng bậc của nguồn lực tài chính phục vụ phát triển KTXH địa phương, nhấn mạnh mối quan hệ tương hỗ giữa nguồn lực nhà nước và nguồn lực ngoài ngân sách.

Về mặt thực tiễn và giải pháp:

  • Khái quát hóa các rào cản thể chế mang tính hệ thống của mô hình quản lý kế hoạch và ngân sách lồng ghép đơn nhất tại Việt Nam, lý giải nguyên nhân cốt lõi khiến các bản kế hoạch địa phương thiếu tính khả thi.
  • Tổng kết có hệ thống các bài học kinh nghiệm từ việc thí điểm MTEF và các dự án lập kế hoạch có sự tham gia tại Việt Nam (SFDP, Chia Sẻ, ISP, VOICE, HPRP).
  • Đề xuất 7 quan điểm đổi mới và thiết kế mô hình quy trình lập kế hoạch phát triển KTXH hàng năm lồng ghép ngân sách cho ba cấp chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã).
  • Đề xuất lộ trình đổi mới hai giai đoạn (2011–2015 và 2016–2020) kèm theo các điều kiện tiền đề về thể chế, tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ công chức.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Luận án giới hạn trọng tâm nghiên cứu ở khâu lập kế hoạch (soạn lập kế hoạch), các khâu tổ chức thực hiện và theo dõi đánh giá chỉ được phân tích ở mức độ hỗ trợ cho khâu lập kế hoạch.
  • Trọng tâm phân tích nguồn lực tài chính tập trung vào nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn tài chính công quản lý qua ngân sách; các cơ chế tài chính huy động vốn tư nhân, FDI và tín dụng thương mại chưa được khảo sát chi tiết ở cấp vi mô.
  • Phạm vi nghiên cứu tập trung vào kế hoạch tổng thể phát triển KTXH địa phương theo lãnh thổ, không đi sâu vào quy trình nghiệp vụ lập kế hoạch phát triển của từng ngành chuyên môn độc lập.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện bộ công cụ, chỉ số theo dõi và đánh giá (M&E) kết quả thực hiện kế hoạch phát triển KTXH tại cấp địa phương sau khi áp dụng mô hình mới.
  • Nghiên cứu cơ chế tài chính và thể chế chính sách nhằm huy động, điều tiết hiệu quả các nguồn tài chính ngoài ngân sách (nguồn lực tư nhân, vốn xã hội hóa) lồng ghép vào kế hoạch phát triển KTXH địa phương.
  • Đánh giá tác động thực tế của mô hình đổi mới sau giai đoạn thí điểm 2011–2015 để đề xuất sửa đổi Luật Ngân sách Nhà nước và xây dựng Luật Quy hoạch/Kế hoạch hóa phát triển.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo khoa học hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cán bộ công chức thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân các cấp, Sở/Phòng Kế hoạch và Đầu tư, Sở/Phòng Tài chính có thể tham khảo trực tiếp khung quy trình kỹ thuật lập kế hoạch lồng ghép nguồn lực để cải tiến quy trình công tác thực tế tại địa phương.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu trong các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển, Tài chính công, Quản lý công tại các trường đại học và viện nghiên cứu kinh tế.
  • Các tổ chức quốc tế và ban quản lý dự án: Cung cấp tư liệu thực chứng về thể chế kế hoạch hóa và ngân sách tại Việt Nam cho các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), UNDP và các tổ chức phi chính phủ khi thiết kế và thực hiện các chương trình dự án hỗ trợ kỹ thuật về cải cách quản lý tài chính công và phát triển địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Khung phân tích sự gắn kết giữa kế hoạch và nguồn lực tài chính của luận án gồm những điều kiện nào?
Luận án xác lập khung phân tích gồm 4 điều kiện cần (tính chiến lược, sự tham gia của các bên liên quan, tính ưu tiên hóa trong phân bổ nguồn lực, hệ thống theo dõi đánh giá) và 4 điều kiện đủ (tư duy và cam kết của lãnh đạo, môi trường thể chế pháp lý, cơ chế phối hợp và chia sẻ thông tin, năng lực và động cơ của cán bộ lập kế hoạch).

2. Bản chất khác biệt cơ bản giữa kế hoạch hóa trong cơ chế tập trung và cơ chế thị trường theo luận án là gì?
Trong cơ chế tập trung, kế hoạch hóa mang tính chủ quan, duy ý chí, mang tính pháp lệnh mệnh lệnh trực tiếp, khép kín và thay thế thị trường. Trong cơ chế thị trường, kế hoạch hóa mang tính khách quan, gắn với thực tiễn, mang tính định hướng dẫn dắt gián tiếp, mềm dẻo thích nghi và đóng vai trò hỗ trợ, bổ sung cho thị trường.

3. Luận án phân loại nguồn lực tài chính thành mấy nhóm?
Dựa trên cách tiếp cận của Doãn Văn Kính và cộng sự (2008), luận án phân loại nguồn lực tài chính thành 5 loại: Loại 1 (Nền tài chính nhà nước / NSNN), Loại 2 (Tài chính công mở rộng), Loại 3 (Tài chính then chốt / qua hệ thống ngân hàng), Loại 4 (Tổng NLTC trong nước / bổ sung tài chính dân cư và doanh nghiệp), Loại 5 (Tổng NLTC toàn xã hội / bổ sung tài chính nước ngoài).

4. Bất cập cơ bản trong mối quan hệ giữa kế hoạch phát triển KTXH và kế hoạch ngân sách tại địa phương hiện nay là gì?
Thực trạng quy trình hiện hành cho thấy kế hoạch ngân sách thường "chạy trước" kế hoạch phát triển KTXH; phân bổ ngân sách mang nặng tính sự vụ, dàn trải theo đầu vào, thiếu gắn kết với các mục tiêu chiến lược dài hạn và chuỗi kết quả đầu ra.

5. Lộ trình đổi mới công tác lập kế hoạch gắn với nguồn lực tài chính được luận án đề xuất thực hiện qua các giai đoạn nào?
Luận án đề xuất lộ trình gồm hai giai đoạn: Giai đoạn 2011–2015 tập trung thí điểm toàn diện mô hình mới ở ba cấp địa phương và chuẩn bị điều kiện tiền đề; Giai đoạn 2016–2020 tiến hành củng cố, hoàn thiện thể chế và duy trì phương thức lập kế hoạch mới bền vững trên diện rộng.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Vũ Cương (2010) đã giải quyết một vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn quản lý kinh tế tại Việt Nam: đổi mới công tác lập kế hoạch phát triển KTXH địa phương theo hướng gắn kết chặt chẽ với nguồn lực tài chính. Công trình đã xây dựng thành công khung lý thuyết phân tích dựa trên Quản lý công mới và quản lý theo kết quả, chỉ rõ thực trạng bất cập của hệ thống kế hoạch hóa đơn nhất hiện hành qua 4 điều kiện cần và 4 điều kiện đủ. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống 7 quan điểm đổi mới, quy trình kỹ thuật lập kế hoạch lồng ghép cho ba cấp chính quyền địa phương cùng lộ trình triển khai hai giai đoạn cụ thể. Đây là công trình nghiên cứu hệ thống, đóng góp luận cứ khoa học cho quá trình hoàn thiện thể chế kế hoạch hóa và quản lý tài chính công tại Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường.