Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu về chính sách thúc đẩy doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đổi mới công nghệ hướng tới mục tiêu thân thiện với môi trường là vấn đề cấp thiết đối với tiến trình phát triển kinh tế tại Việt Nam. Theo thống kê của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, trong tổng số gần 550.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động trên cả nước, khối DNVVN chiếm tới hơn 97%. Tuy nhiên, nền sản xuất công nghiệp nội địa chủ yếu dừng lại ở công đoạn gia công, lắp ráp với giá trị gia tăng thấp và sử dụng máy móc, dây chuyền công nghệ lạc hậu. Thực trạng này tạo ra áp lực nặng nề đối với hệ sinh thái tự nhiên, gia tăng lượng chất thải nguy hại và tiêu hao năng lượng quá mức.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng trình độ công nghệ của các DNVVN trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2012. Trên cơ sở đó, luận văn chỉ rõ các điểm nghẽn về thể chế chính sách, năng lực tài chính và tiếp cận thông tin, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ xanh theo định hướng Chiến lược Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 07/09/2009. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, việc hoàn thiện các chính sách hỗ trợ chuyển giao công nghệ thân thiện môi trường cho 97% doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa có thể giúp giảm thiểu ước tính từ 15% đến 25% lượng phát thải công nghiệp độc hại, đồng thời nâng cao từ 10% đến 20% hiệu quả sử dụng năng lượng trên mỗi đơn vị sản phẩm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết cấu thành công nghệ của Ủy ban Kinh tế - Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) thuộc Liên Hợp Quốc, phân định công nghệ thành 4 thành phần tương tác hữu cơ: Phần thiết bị (Technoware), Phần con người (Humanware), Phần thông tin (Infoware), và Phần tổ chức (Orgaware). Song song với đó, nghiên cứu kế thừa mô hình đổi mới công nghệ của Keith Pavitt (2003) và hướng dẫn Oslo Manual (1997) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), phân chia hoạt động đổi mới thành đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình (TPP - Technological Product and Process). Quá trình này được phân loại theo hai cấp độ: đổi mới gián đoạn mang tính đột phá và đổi mới liên tục mang tính cải tiến gia tăng.

Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong luận văn bao gồm:

  • Công nghệ thân thiện với môi trường: Hệ thống các giải pháp kỹ thuật, quy trình và thiết bị hạn chế tối đa phát thải, tối ưu hóa tài nguyên và tích hợp công nghệ xử lý cuối đường ống theo định nghĩa của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) và Chương trình Nghị sự 21.
  • Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Xác định theo tiêu chí của Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ, dựa trên quy mô tổng nguồn vốn (từ dưới 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng) hoặc số lao động bình quân năm (từ 10 người đến dưới 300 người) tùy theo ngành nghề kinh doanh.
  • Sản xuất sạch hơn (SXSH): Việc áp dụng liên tục chiến lược phòng ngừa môi trường tổng hợp vào quá trình sản xuất nhằm tăng hiệu suất sinh thái và giảm thiểu rủi ro cho con người.
  • Phát triển bền vững: Khái niệm theo Báo cáo Brundtland (1987) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED), kết hợp hài hòa ba trụ cột: kinh tế bền vững, xã hội bền vững và môi trường bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp của luận văn được tổng hợp từ số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê, Báo cáo thống kê giai đoạn 2009 - 2012 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cùng dữ liệu quan trắc từ Tổng cục Môi trường vào tháng 10/2012. Bên cạnh đó, nghiên cứu khai thác dữ liệu thực tế từ Báo cáo quan trắc dự án đổi mới công nghệ tại Công ty Cổ phần Nhựa Tân Phú do Quỹ Ủy thác Tín dụng Xanh tài trợ năm 2007 và Báo cáo tổng kết của Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam năm 2011.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích với cỡ mẫu gồm 30 DNVVN hoạt động trong các lĩnh vực chế tạo, nhựa, hóa chất và dệt may tại một số tỉnh, thành phố trọng điểm. Lý do lựa chọn cỡ mẫu và phương pháp này nhằm thu thập bức tranh chân thực về các rào cản kỹ thuật và năng lực vốn mà các doanh nghiệp sản xuất đang đối mặt. Đồng thời, tác giả thực hiện phương pháp phỏng vấn chuyên sâu 5 chuyên gia quản lý đầu ngành thuộc Cục Ứng dụng và Phát triển Công nghệ, Vụ Khoa học và Công nghệ - Bộ Công Thương, Cục Phát triển Thị trường và Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ, Lãnh đạo Chiến lược Tập đoàn FPT, cùng đại diện Cục Cảnh sát Môi trường và Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia (NATIF). Dữ liệu được xử lý bằng các phương pháp so sánh, tổng hợp định tính và thống kê mô tả nhằm kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu trong mốc thời gian từ năm 2007 đến 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế từ 30 DNVVN và nguồn dữ liệu giai đoạn 2007 - 2012 đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

  1. Thiếu hụt nguồn vốn đầu tư ban đầu và khó tiếp cận tín dụng xanh: Hơn 80% doanh nghiệp được khảo sát cho biết rào cản tài chính là trở ngại lớn nhất khi đầu tư vào thiết bị thân thiện với môi trường. Chi phí vốn để nhập khẩu dây chuyền công nghệ cao vượt quá 50% tổng tài sản hiện có của phần lớn DNVVN, trong khi tài sản bảo đảm không đáp ứng được yêu cầu khắt khe từ các ngân hàng thương mại.

  2. Trình độ công nghệ thấp và phụ thuộc vào sao chép: Khoảng 70% doanh nghiệp chủ yếu đổi mới theo hình thức mua sắm thiết bị rời rạc hoặc sao chép công nghệ có sẵn mà thiếu hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) bài bản. Tỷ lệ chi tiêu cho R&D chỉ chiếm dưới 1% tổng doanh thu hàng năm, dẫn đến năng lực làm chủ phần mềm (Infoware) và tổ chức quản trị (Orgaware) còn rất yếu kém.

  3. Mức độ áp dụng hệ thống quản lý môi trường đạt chuẩn rất thấp: Chưa tới 5% DNVVN trong diện khảo sát đạt chứng nhận Hệ thống quản lý môi trường ISO 14001. Doanh nghiệp chủ yếu ứng phó mang tính bị động trước các đợt thanh kiểm tra thay vì chủ động kiểm soát dòng thải từ nguồn.

  4. Hiệu quả kinh tế - môi trường rõ nét từ các mô hình thí điểm: Tại Công ty Cổ phần Nhựa Tân Phú, sau khi được Quỹ Ủy thác Tín dụng Xanh tài trợ đổi mới dây chuyền máy ép phun công nghệ mới, mức tiêu thụ điện năng giảm khoảng 18%, tỷ lệ phế phẩm nhựa giảm từ 4,5% xuống dưới 1,8%, giúp tiết kiệm hàng trăm triệu đồng chi phí nguyên liệu mỗi năm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ của khung chính sách hiện hành. Nghị định 119/1999/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn Luật Chuyển giao Công nghệ 2006 chưa đưa ra các định mức ưu đãi thuế đủ hấp dẫn để bù đắp rủi ro cho doanh nghiệp. Thị trường dịch vụ tư vấn, thẩm định và giám định công nghệ môi trường chưa công khai, minh bạch, làm gia tăng chi phí giao dịch cho các DNVVN.

Dữ liệu thu thập có thể được tổng hợp trực quan qua biểu đồ cơ cấu nguồn vốn đổi mới công nghệ và bảng ma trận đánh giá năng lực công nghệ theo 4 thành phần THIO. Kết quả phân tích chỉ ra rằng điểm số của nhóm DNVVN tại Việt Nam chủ yếu tập trung ở phần thiết bị phần cứng (Technoware), trong khi năng lực con người (Humanware) và cơ cấu tổ chức (Orgaware) đều ở mức thấp. So sánh với các công trình của GS.TS Đỗ Nguyên Phương (mã số ĐTĐL 2003-2006) hay nghiên cứu của Nguyễn Việt Hòa (2007), luận văn đã làm sáng tỏ góc độ tác động kép giữa bảo vệ sinh thái và lợi ích thương mại, khẳng định đổi mới công nghệ sạch chỉ thành công bền vững khi được gắn liền với khả năng hoàn vốn của dự án.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hoàn thiện khung khổ pháp lý và chính sách ưu đãi tài chính: Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ sửa đổi quy định miễn giảm thuế Thu nhập doanh nghiệp và thuế Giá trị gia tăng cho các dự án đầu tư máy móc thân thiện môi trường; cho phép áp dụng cơ chế khấu hao nhanh tài sản cố định từ 1,5 đến 2 lần so với mức thông thường, hoàn thành lộ trình thực hiện trước năm 2015.

  2. Mở rộng quy mô giải ngân và hạ chuẩn tiếp cận các Quỹ tín dụng xanh: Nâng cao năng lực cho vay ủy thác của Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia (NATIF) và Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam; thiết lập cơ chế bảo lãnh tín dụng phi tài sản thế chấp dựa trên báo cáo đánh giá tác động môi trường, đặt mục tiêu tăng tỷ lệ DNVVN tiếp cận vốn ưu đãi lên 20% vào năm 2018 và 35% vào năm 2020.

  3. Thiết lập Trung tâm tư vấn kỹ thuật và sàn giao dịch công nghệ trực tuyến: Giao Cục Ứng dụng và Phát triển Công nghệ xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về công nghệ thân thiện môi trường, cung cấp dịch vụ môi giới, thẩm định giá và hỗ trợ 100% chi phí đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các sáng chế xanh của DNVVN trong giai đoạn 2014 - 2017.

  4. Thúc đẩy liên kết viện - trường - doanh nghiệp và đào tạo nhân lực kỹ thuật: Triển khai các đề tài nghiên cứu ứng dụng có sự phối hợp công - tư giữa viện nghiên cứu và hiệp hội doanh nghiệp, phấn đấu hỗ trợ ít nhất 500 lượt kỹ sư và cán bộ quản lý tại các DNVVN tiếp cận quy trình Sản xuất sạch hơn và tiêu chuẩn ISO 14001 mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường có thể sử dụng các số liệu thực chứng và đề xuất thể chế để xây dựng thông tư hướng dẫn hỗ trợ đổi mới công nghệ, sửa đổi danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao.
  • Ban lãnh đạo và hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa: Các chủ doanh nghiệp có thể tham khảo mô hình phân tích chi phí - lợi ích từ ca điển hình Nhựa Tân Phú để xây dựng lộ trình đầu tư máy móc xanh, tối ưu hóa nguyên vật liệu và đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu khắt khe.
  • Các quỹ tài chính và tổ chức phát triển quốc tế: Ban điều hành Quỹ NATIF, Quỹ Bảo vệ Môi trường và các tổ chức như UNEP, UNIDO có thêm luận cứ thực tế để thiết kế các gói tài trợ kỹ thuật, gói tín dụng xanh phù hợp với năng lực hấp thụ vốn của DNVVN Việt Nam.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành chính sách: Nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho các học phần Quản lý Khoa học Công nghệ, Kinh tế Môi trường và Phát triển Bền vững, cung cấp khung phân tích đa chiều về mối tương quan giữa chính sách công và hành vi đổi mới của doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nghiên cứu này dựa trên cơ sở pháp lý nào? Luận văn căn cứ theo Điều 3 Nghị định 56/2009/NĐ-CP, phân loại doanh nghiệp thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa. Trong ngành công nghiệp và xây dựng, doanh nghiệp nhỏ có từ trên 10 đến 200 lao động hoặc vốn từ 20 đến 100 tỷ đồng; doanh nghiệp vừa có từ trên 200 đến 300 lao động.

  2. Tại sao DNVVN tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận công nghệ thân thiện môi trường? Theo kết quả khảo sát 30 DNVVN, trên 80% doanh nghiệp thiếu vốn và không có tài sản bảo đảm đủ điều kiện vay ngân hàng. Ngoài ra, hơn 70% doanh nghiệp thiếu kênh thông tin kỹ thuật chính thống và thiếu hụt nhân lực có trình độ khoa học công nghệ cao để vận hành dây chuyền hiện đại.

  3. Việc đổi mới công nghệ xanh mang lại hiệu quả thực tế như thế nào đối với doanh nghiệp? Dữ liệu quan trắc từ Công ty Cổ phần Nhựa Tân Phú chứng minh việc áp dụng công nghệ mới giúp giảm khoảng 18% điện năng tiêu thụ, giảm tỷ lệ phế phẩm từ 4,5% xuống dưới 1,8%, nâng cao năng suất tổng thể và tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn trên thị trường.

  4. Khung lý thuyết phân tích công nghệ trong luận văn gồm những thành phần nào? Luận văn áp dụng khung phân tích THIO của ESCAP, bao gồm 4 yếu tố không thể tách rời: Phần kỹ thuật thiết bị (Technoware), Phần năng lực con người (Humanware), Phần dữ liệu thông tin (Infoware), và Phần tổ chức quản lý (Orgaware).

  5. Đâu là giải pháp chính sách trọng tâm cần ưu tiên thực hiện ngay? Giải pháp đột phá là hoàn thiện cơ chế tài chính thông qua chính sách khấu hao nhanh tài sản cố định từ 1,5 đến 2 lần, kết hợp thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng xanh chuyên biệt nhằm giúp DNVVN tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi mà không bị rào cản bởi tài sản thế chấp truyền thống.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về đổi mới công nghệ thân thiện môi trường trong bối cảnh phát triển bền vững và chuyển dịch xanh của nền kinh tế.
  • Bức tranh thực trạng giai đoạn 2007 - 2012 được làm rõ: DNVVN chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp nhưng hơn 80% bị tắc nghẽn nguồn vốn và dưới 5% đạt chứng nhận môi trường ISO 14001.
  • Minh chứng sinh động từ ca điển hình Nhựa Tân Phú khẳng định đổi mới công nghệ sạch giúp cắt giảm khoảng 18% điện năng và hạ thấp tỷ lệ phế thải dưới 1,8%.
  • Đưa ra hệ thống giải pháp toàn diện gồm 4 nhóm khuyến nghị về thể chế, tài chính, sàn giao dịch công nghệ và liên kết đào tạo nhân lực.
  • Lộ trình thực hiện cần được các cơ quan quản lý triển khai đồng bộ từ năm 2014 đến 2020; các cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp cần chủ động phối hợp để hiện thực hóa Chiến lược Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp.