Chương 1: Đổi mới xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng MCQ trong dạy học chương II: Cảm ứng- Sinh học 11 THPT. Chương 2: Đổi mới sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan MCQ trong dạy bài mới. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. Cuối luận văn là danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu. Trên thế giới. Từ thời cổ đại, người Ai Cập đã biết sử dụng các phương pháp đo lường và trắc nghiệm để xây dựng các kim tự tháp, vận dụng vào sản xuất nông nghiệp và đời sống hàng ngày [6] nhưng phải đến thế kỷ XVII-XVIII thì một số nước châu Âu mới bắt đầu sử dụng trắc nghiệm trong nghiên cứu khoa học vật lí, tâm lí và sau đó đến động vật học.
Sang đầu thế kỷ XIX, ở Đức và nhiều nước Châu Âu khác đã bắt đầu sử dụng trắc nghiệm trong các phòng thí nghiệm SH [6]. Trong tác phẩm “Nguồn gốc các loài” (1859), Darwin đã sử dụng các PP KT, so sánh để phát hiện sự khác biệt giữa các các loài. Đến năm 1879 phòng thí nghiệm tâm lí đầu tiên được Wichelm weent thiết lập tại Leipzig của Đức, ở phòng thí nghiệm này các nhà tâm lí đã sử dụng phương pháp trắc nghiệm để tiến hành các phép đo về thị giác, thính giác, tốc độ phản ứng của cơ thể,. Sau đó tiếp tục ứng dụng để nghiên cứu thời gian nhận thức, tốc độ học tập của người học, v.
Cuối thế kỷ XIX, Francis Galton (người Anh) đã áp dụng những nguyên tắc KT, đo lường của Darwin vào việc xác định trí thông minh bằng những trắc nghiệm về thời gian phản ứng và về sự phân biệt trong cảm giác. Những thí nghiệm này đã mở ra một hướng mới để đi đến các trắc nghiệm về năng lực trí tuệ của cá nhân và sau đó là trắc nghiệm theo nhóm. Trắc nghiệm theo nhóm là hướng được phát triển mạnh và sau này nó phát triển trở thành các dạng TNKQ được sử dụng trong DH. Sang đầu thế kỷ XX, khoa học trắc nghiệm phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới như: Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô, Hàn Quốc, Nhật Bản, …Vào đầu năm 1905, Alfred Biznet (người Pháp) và cộng sự đã xuất bản bài ”trắc nghiệm của Biznet”, sau đó bài trắc nghiệm này đã được dịch và xuất bản tại 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Năm 1916, Lewis Terman ở Đại học Standford đã hoàn thiện và dịch bài trắc nghiệm của Biznet sang tiếng Anh, từ đó trắc nghiệm trí thông minh được gọi là trắc nghiệm Standford -Biznet. Mặc dầu không phải là các bài trắc nghiệm được dùng để đo lường thành quả học tập của HS phổ thông nhưng trắc nghiệm của Biznet đã mở ra con đường và trở thành tiền đề để xây dựng trắc nghiệm theo nhóm dùng trong DH. Những năm sau đó Thorm Dike đã dùng TNKQ như một phương pháp “khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ kiến thức của HS với môn số học và một số loại kiến thức xã hội khác. Các trắc nghiệm theo nhóm mang lại nhiều ưu điểm như: dễ thực hiện, có tính khách quan, có độ tin cậy cao nên đã phát triển nhanh chóng ở Mỹ và các nước tiên tiến khác, do vậy nên loại hình trắc nghiệm theo nhóm được các nhà GD hưởng ứng mạnh mẽ.
Vấn đề tiêu chuẩn hoá các bài trắc nghiệm được các chuyên gia đặc biệt chú ý, đây chính là cơ sở của hàng loạt các công trình nghiên cứu về trắc nghiệm ở các nước phát triển vào những năm 30 của thế kỷ XX. Lúc đầu các chuyên gia biên soạn các trắc nghiệm chuẩn có nội dung và cấu trúc đơn giản nhằm KT tốc độ và khả năng nhớ lại các thông tin, sự kiện nhưng kết quả thu được không như mong muốn, bởi vậy dần dần họ đã đưa vào bài trắc nghiệm chuẩn với các câu hỏi không đơn thuần chỉ yêu cầu tái hiện các thông tin, các sự kiện mà đòi hỏi phải có sự tư duy lôgic về các thông tin và các sự kiện đó. Kế thừa những thành quả đã đạt được, đến năm 1940 thì các bộ đề thi TNKQ dùng cho tuyển sinh đã ra đời và được các nước phát triển duy trì và mở rộng trên nhiều lĩnh vực kiến thức. Ở Liên Xô, từ những năm 30 của thế kỷ XX trắc nghiệm đã được dùng để chẩn đoán các đặc điểm tâm lý cá nhân và để KTĐG năng lực học tập của HS.
Tuy nhiên, vì quá đề cao lạm dụng và sử dụng phương pháp này một cách máy móc nên trắc nghiệm đã thất bại, các bài KT không đạt hiệu quả như mong muốn ban đầu. Do vậy Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Liên Xô quyết liệt phê phán và phủ quyết việc sử dụng trắc nghiệm, điều này cũng đã ảnh hưởng đến nền GD thế giới, làm cho việc sử dụng và nghiên cứu về trắc nghiệm bị gián 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đến giữa thập niên 60 của thế kỷ 20, Liên Xô và một số nước Phương Tây mới trở lại sử dụng phương pháp trắc nghiệm này [8], kể từ đó khoa học trắc nghiệm được phát triển mạnh mẽ và sâu rộng, hình thức trắc nghiệm được cải tiến và nâng cao dần. Đi cùng với những bước tiến này là sự phát triển mạnh của công nghệ thông tin nên nhiều tác giả đã xây dựng được phần mềm để xử lý số liệu và kết quả trắc nghiệm.
Đại diện tiên phong trong lĩnh vực này là Ghecberic (năm 1964) đã sử dụng máy tính để cài đặt chương trình xử lý kết quả thu được. Với công nghệ này không chỉ tìm ra giá trị của một bài trắc nghiệm mà còn đánh giá chính xác KQHT và hiệu quả của PP GD bởi độ tin cậy của hệ thống câu hỏi trắc nghiệm đạt được ở mức độ cao. Ngày nay thế giới đang sử dụng trắc nghiệm với nhiều mục đích và ở nhiều lĩnh vực khác nhau như trong GD, y tế, kinh tế. và đã thu được nhiều thành quả.
Ở các nước Âu Mỹ, TNKQ được sử dụng phổ biến trong trường học và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về kĩ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ, nó đã nêu ra được các ưu và nhược điểm của loại câu hỏi này nên đã giúp người sử dụng biết cách hạn chế những nhược điểm và phát huy tối đa ưu điểm của nó. Nhiều công trình nghiên cứu về đo lường, đánh giá KQHT đã được công bố như: Hopkins K. Các tác giả này đã đi sâu vào phương pháp đo lường từng lĩnh vực của mục tiêu giáo dục, phân biệt rõ từng loại trắc nghiệm, xác định nguyên tắc xây dựng và sử dụng từng loại trắc nghiệm,. Bên cạnh đó cũng đã có nhiều công trình về kĩ thuật xây dựng và sử dụng MCQ trong KTĐG, tự KTĐG, các công trình nghiên cứu quy trình xây dựng và lựa chọn cách thức sử dụng câu hỏi trắc nghiệm để đảm bảo việc đo lường và đánh giá đạt hiệu quả cao.
Ví dụ như bài trắc nghiệm mẫu mực của các tác giả Alexander L.G, Zolene Gear [14] đã được cả thế giới sử dụng để KT trình độ tiếng Anh, công trình của Janice Finkelstein, Golder Wilson về pre- test dùng cho sinh viên y khoa tự ôn tập về môn SH. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ những năm 50 của thế kỷ XX, Miền Nam đã bắt đầu thử nghiệm và sử dụng TNKQ. Đến những năm 1956-1960, TNKQ được các trường học ở Miền Nam sử dụng rộng rãi trong KTĐG, trong thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh ở bậc THPT, trong đó SH là môn được áp dụng đầu tiên. Năm 1963, "Trắc nghiệm vạn vật lớp 12" của Lê Quang Nghĩa là tác phẩm viết về trắc nghiệm đầu tiên của người Việt được xuất bản, đến năm 1964 cuốn "Phương pháp học và thi vạn vật lớp 12" của Phùng Văn Hướng được ra đời.
Năm 1969, GS Dương Thiệu Tống đã đưa TNKQ vào giảng dạy cho các lớp cao học và Tiến sĩ giáo dục tại ĐHSP Sài Gòn, và từ đó trắc nghiệm đã chính thức được đưa vào chương trình đào tạo GV. Trong giai đoạn này các nghiên cứu về TNKQ và việc sử dụng TNKQ phát triển khá mạnh mẽ, nha khảo thí của Bộ GD nguỵ quyền là cơ quan chuyên phát hành các đề thi TNKQ trong các kỳ thi cho các trường trung học. Năm 1974, kỳ thi Tú tài bằng trắc nghiệm “tiêu chuẩn hoá” (standardized test) được tổ chức lần đầu tiên ở Miền Nam có 235 trung tâm thi được phổ rộng ở 4 ban ( A, B, C, D) với tổng số 130. Sau năm 1975 một số trường vẫn áp dụng TNKQ song ở thời điểm này có nhiều tranh luận nên đã ngừng áp dụng TNKQ trong thi cử, từ đó việc sử dụng TNKQ trong trường học bị gián đoạn.
Ở Miền Bắc, giáo trình viết về trắc nghiệm lần đầu tiên được GS Trần Bá Hoành công bố vào năm 1971 với tác phẩm "Dùng phương pháp test để KT nhận thức của HS về một số khái niệm trong chương trình SH đại cương lớp 9" [8]. Năm 1986, khoa Sinh - KTNN thuộc ĐHSP Hà Nội nhờ sự tài trợ của UNDP đã tổ chức hội thảo về "Phương pháp xây dựng hệ thống câu hỏi lựa chọn đa phương án" do J. Herath trình bày và hướng dẫn. Sau hội thảo này đã có nhiều giảng viên triển khai xây dựng và áp dụng trắc nghiệm vào KTĐG như: Lê Đình Trung (1998): “ Nghiên cứu quy trình và những kết quả bước đầu xây dựng câu hỏi dạng MCQ về một số nội dung kiến thức SH ở trường ĐHSP”; Lê Đình Trung và Nguyễn Thị Kim Giang (1998) “ Xây dựng câu hỏi dạng MCQ về nội dung vật 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất di truyền và biến đổi vật chất di truyền trong chương trình di truyền học ở trường ĐH sư phạm”; Đỗ Thị Lý (1998); Phạm Gia Ngân(1999),.
Vào cuối những năm 90 của thế kỷ 20, nền kinh tế của đất nước đã có những bước phát triển nên đã thúc đẩy sự đổi mới về GD&ĐT, vấn đề đánh giá trong GD nói chung và trắc nghiệm thành quả học tập nói riêng được quan tâm đặc biệt. Trong thời gian này Bộ GD&ĐT đã phối hợp với viện Công nghệ Hoàng Gia Melbourne của Australia tổ chức các cuộc hội thảo về "Kĩ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ" tại 3 thành phố lớn là: Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh. Hội thảo đã trang bị cho giảng viên các trường ĐH và cao đẳng các cơ sở lý luận về TNKQ.