phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 03 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ công trực tuyến tại Cơ quan quản lý hành chính Nhà nước. Chƣơng 2: Thực trạng cung cấp dịch vụ công trực tuyến tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Chƣơng 3: Giải pháp đổi mới và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 8 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN TẠI CƠ QUAN QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 1.
Dịch vụ công Ở nước ta những năm gần đây, lĩnh vực cung cấp DVC trong QLHCNN được quan tâm không chỉ bởi các cấp quản lý, những người thực thi, các chuyên gia đầu ngành mà đặc biệt phải kể đến công dân, doanh nghiệp là đối tượng chịu tác động trực tiếp liên quan đến đời sống, sản xuất kinh doanh trong đó phải kể đến chất lượng dịch vụ và mức độ hài lòng được đánh giá là thấp, điều đó làm cơ sở để Nhà nước chú trọng giải quyết những tồn tại trên. Tuy nhiên, “sẽ không có mô hình tốt nhất có thể vay mượn và đưa vào Việt Nam mà không phải chọn lọc và cấy ghép” [36, tr.295], cần làm rõ bản chất và ý nghĩa hay nội hàm của DVC là điều cần thiết. DVC không còn là nội dung mới, mà là những hoạt động thuộc về bản chất của bộ máy Nhà nước. Có thể thấy, Nhà nước có hai chức năng cơ bản là chức năng QLNN đối với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và chức năng cung ứng DVC cho các tổ chức và công dân.
Nếu nhận thức trước đây cho rằng Nhà nước gắn liền với cai trị, việc thực hiện các dịch vụ cho công dân theo cách cai trị, Nhà nước can thiệp, chỉ đạo thực hiện mọi lĩnh vực trong xã hội và cung ứng DVC công cộng dưới hình thức “xin - cho” và tự nhận định “cho - là” như vậy mới hiệu quả và công bằng, sẽ không còn phù hợp với ngày nay khi mà điều kiện kinh tế - xã hội trên thế giới và mỗi quốc gia có sự biến đối lớn lao, xu thế dân chủ hóa và đòi hỏi của nhân dân đối với Nhà nước trong việc cung cấp DVC ngày càng khắt khe hơn và ngày càng chú trọng đến chức năng phục vụ của Nhà nước. Nhà nước khi đó mang trách nhiệm phục vụ công dân thể hiện bằng các hoạt động cung cấp DVC. 9 Luan van Từ những tính chất nêu trên, DVC được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau: + Theo nghĩa rộng, là những dịch vụ mà Chính phủ can thiệp trực tiếp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng (theo đó, DVC là tất cả những hoạt động thực hiện chức năng được quy định đối với Chính phủ) [24, tr. + Theo nghĩa hẹp, là những dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu của các tổ chức và công dân mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm muc tiêu hiệu quả và công bằng [24, tr.
Điều 39, Luật Tổ chức Chính phủ ban hành ngày 19 tháng 6 năm 2015, quy định: “Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về một hoặc một số ngành, lĩnh vực và dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc”. Vì hoạt động QLNN về DVC là sự tác động gián tiếp tới các đối tượng bị quản lý theo yêu cầu và mục tiêu mà chủ thể quản lý đề ra, nghĩa là Nhà nước không độc quyền cung cấp các DVC mà trái lại Nhà nước hoàn toàn có thể xã hội hóa một số dịch vụ, qua đó trao một phần việc cung ứng, một số dịch vụ cho khu vực phi Nhà nước thực hiện. Vì mục tiêu của khu vực tư nhân là lợi nhuận nên phó thác hoàn toàn cho khu vực ngoài Nhà nước thì một số đối tượng sẽ không có khản năng tiếp cận được DVC dẫn đến thiếu sự công bằng, khi mà dịch vụ đó mang đậm chất thiết yếu (như điện, nước, vệ sinh môi trường, giao thông công cộng,…) gây tình trạng bất ổn trong xã hội. Nhà nước ủy quyền cung cấp một số dịch vụ mà Nhà nước tin rằng khu vực ngoài Nhà nước đảm nhận hiệu quả, tuy nhiên Nhà nước vẫn muốn biết, muốn quản lý và muốn kiểm soát mọi thứ để đảm bảo các dịch vụ được ủy quyền đến với mọi người trên nguyên tắc công bằng.
Đồng thời, để tăng tính hiệu quả trong hoạt động cung ứng và giảm tình trạng độc quyền trong cung ứng đối với một số dịch 10 Luan van vụ phù hợp mà cơ chế pháp lý quy định thì khu vực tư nhân được hoạt động dưới sự ủy quyền, kiểm soát và được đảm bảo từ Nhà nước nhằm phục vụ cho các lợi ích chung thiết yếu của xã hội. Vì vậy, ngay khi Nhà nước chuyển giao một phần việc cung ứng DVC cho khu vực tư nhân thì Nhà nước vẫn có vai trò điều tiết nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này và khắc phục các bất cập của thị trường. Dù xét ở phạm vi của khu vực nào thì DVC vẫn cung cấp cho mọi công dân dựa trên nguyên tắc, cho nên Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm hiệu quả cung cấp DVC theo hướng công bằng, hiệu quả và thiết yếu. Vì vậy, khái niệm DVC được hiểu là những hoạt động phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của cá nhân vì lợi ích chung của xã hội, do Nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội (trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện) nhằm bảo đảm ổn định và công bằng xã hội.
- Phân loại dịch vụ công: Nhằm duy trì và trật tự kỷ cương xã hội, đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công dân cần xác định khái niệm và phạm vi DVC trên cơ sở tách biệt một cách tương đối hai chức năng của Nhà nước. Trên cơ sở phạm vi hoạt động cung ứng DVC, tùy theo điều kiện cụ thể cho thấy có nhiều cách phân loại DVC. Mỗi cách thức phân loại DVC khác nhau tùy thuộc vào mỗi tiêu chí phân loại hình thành nhiều loại hình hoạt động tương ứng. Dịch vụ công có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, xét theo tiêu chí chủ thể cung ứng, dịch vụ công được chia thành 3 loại, như sau: Loại thứ nhất, Dịch vụ công do cơ quan Nhà nước trực tiếp cung cấp: Đó là những dịch vụ công cộng cơ bản do các cơ quan của Nhà nước cung cấp.
Ví dụ, an ninh, giáo dục, phổ thông, chăm sóc y tế công cộng, bảo trợ xã hội… 11 Luan van Loại hứ hai, Dịch vụ công do các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân cung cấp, gồm những dịch vụ mà Nhà nước có trách nhiệm cung cấp, nhưng không tực tiếp thực hiện mà ủy quyền cho tổ chức phi chính phủ và tư nhân thực hiện, dưới sự đôn đốc, giám sát của Nhà nước. Ví dụ các công trình công cộng do chính phủ kêu gọi thầu có thể do các công ty tư nhân đấu thầu cạnh tranh xây dựng. Loại thứ ba, Dịch vụ công do tổ chức Nhà nước, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân phối hợp thực hiện. Loại hình cung ứng dịch vụ này ngày càng trở nên phổ biến ở nhiều nước.
Chẳng hạn như ở Trung Quốc, việc thiết lập hệ thống bảo vệ trật tự ở các khu dân cư là do cơ quan công an, tổ chức dịch vụ khu phố và ủy ban khu phố phối hợp thực hiện. Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, có thể chia dịch vụ công thành các loại sau: Loại thứ nhất, Dịch vụ sự nghiệp công: Bao gồm các hoạt động cung cấp phúc lợi xã hội thiết yếu cho người dân như giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sức khỏe, thể dục thể thao, bảo hiểm, an sinh xã hội,… Xu hướng chung hiện nay trên thế giới là Nhà nước chỉ thực hiện những dịch vụ công nào mà xã hội không thể làm được hoặc không muốn làm nên Nhà nước đã chuyển giao một phần việc cung ứng loại DVC này cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội thực hiện. Loại thứ hai, Dịch vụ công ích: Là các hoạt động cung cấp các hàng hóa, dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân và cộng đồng như: Vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch, vận tải công cộng đô thị, phòng chống thiên tai… chủ yếu do các doanh nghiệp Nhà nước thực hiện. Có một số hoạt động ở địa bàn cơ sở do khu vực tư nhân đứng ra đảm nhiệm như vệ sinh môi trường, thu gom vận chuyển rác thải ở một số đô thị nhỏ, cung ứng nước sạch ở một số vùng nông thôn… 12 Luan van Loại thứ ba, Dịch vụ hành chính công: Đây là loại dịch vụ gắn liền với chức năng QLNN nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân.
Do vậy, cho đến nay, đối tượng cung ứng duy nhất các DVC này là cơ quan công quyền hay các cơ quan do Nhà nước thành lập được ủy quyền thực hiện cung ứng dịch vụ hay DVC. Đây là một phần trong chức năng QLNN và để thực hiện chức năng này, Nhà nước phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch,…(Ở một số nước, DVHCC được coi là một loại hoạt động riêng, không nằm trong phạm vi DVC. Ở nước ta, một số nhà nghiên cứu cũng có quan điểm như vậy). Người dân được hưởng những dịch vụ này không theo quan hệ cung cầu, ngang giá trên thị trường, mà thông qua việc đóng lệ phí hoặc phí cho CQHCNN.
Phần lệ phí này mang tính chất hỗ trợ cho ngân sách Nhà nước. Như vậy, khái niệm DVC bao gồm một số loại dịch vụ khác, thậm chí rất khác nhau về tính chất. Dịch vụ hành chính công 1.1 Khái niệm Dựa vào tính chất phục vụ của DVC, Dịch vụ hành chính công ít nhiều mang tính bắt buộc, yêu cầu các công dân và tổ chức phải tuân thủ. Và cũng có một số ý kiến cho rằng “không tồn tại” loại DVC này, đơn giản khái niệm về DVC được hiểu là các loại dịch vụ phục vụ cho các lợi ích chung thiết yếu của toàn xã hội.
Nếu như việc tách biệt DVC có tính chất công cộng với DVHCC chỉ là tương đối ở một số khía cạnh.