Chương I: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN Trong công trình nghiên cứu “Những nguyên lý cơ bản của Chương trình học và Giảng day”, nhà giáo dục danh tiếng Ralph W.Tyler (1950) đã nêu lên 4 câu hỏi chủ yếu mà bắt cứ quá trình giáo dục nào cũng phải giải đáp: 1. Nhà trường phải tìm kiếm dé đạt được những mục đích giáo dục gi? 2. Những trải nghiệm giáo dục nào có thể được cung cấp nhằm đạt được những mục đích đó? 3. Những trải nghiệm giáo dục này có thể tổ chức như thế nào để đạt hiệu quả? 4.
Chúng ta có thể xác định như thế nào đẻ biết các mục đích này đạt được? Lời giải đáp cho câu hỏi này chính là 4 yếu tố cơ bản của quá trình giáo dục: Mục tiêu (Objective), Nội dung chuyên môn (Subject Matter), Phương pháp và Tô chức (Methods and organization) và Đánh giá (Evaluation). Phân tích mỗi quan hệ tương tác giữa các yếu tổ này với nhau đẻ vạch ra các bước di cho việc xác định chúng trong một quá trình day học, “Nguyên lý Tyler” (The Tyler Principle) trở thành nền tảng lý luận của các bộ môn khoa học giáo dục Hoa Ky, [ 10, tr. Các yếu tế cơ bản trong quá trình dạy học 1. Khái niệm về các yếu tố cơ bản 1.
Mục tiêu giáo dục Các nhà giáo dục Hoa Ky đã thống nhất định nghĩa về mục tiêu giao dục như sau: Mục tiêu giáo dục là sự tuyên bố về những kết quả được dự kiến hay mong đợi sẽ đạt được đối với người học, sau khi họ hoàn tắt quá trình giáo dục. Vi quá trình giáo dục có nhiều cắp độ khác nhau, cho nên mục tiêu giáo dục cũng có nhiều cấp độ, tương ứng với quá trình giáo đục của mục tiêu giáo dục đó. Các nhà giáo dục Hoa Kỳ cho rằng có 3 cấp độ mục tiêu chính trong hệ thống giáo dục phô thông của dat nước, đỏ là: Tôn chỉ (Aim), Mục dich (Goal), Mục tiêu (Objective). Các mục tiêu thuộc những cấp độ khác nhau này có quan hệ chặt chẽ với nhau, hợp thành một chuỗi liên kết.
xuyên suốt từ cấp độ cao nhất đến cấp độ thấp nhất. Trong chuỗi liên kết đó, mục tiêu của cắp độ trên là sự khái quát hoá dé dẫn tới mục tiêu ở cấp độ dưới kế cận; ngược lại, mục tiêu của cấp độ dưới là sự cụ thể hoá của mục tiêu của cắp độ trên kế cận. Nội dung chuyên môn Thuật ngữ “nội dung chuyên môn” trước hết có nghĩa là nội dung kiến thức. Nội dung kiến thức là một bộ phận kiến thức được lựa chọn, chứa đựng trong khuôn khổ quá trình giáo dục, dé đáp ứng mục tiêu của quá trình giáo dục đó.
Tuy nhiên, nội dung chuyên môn không chỉ là kiến thức. mà còn bao gồm cả kỹ năng và thái độ tinh cảm liên quan đến kiến thức. Vậy, nội dung chuyên môn là những kiến thức, kỹ năng va thái độ - tinh cam được lựa chọn dé đáp ứng mục tiêu giáo dục. Vì có nhiều cấp độ quá trình giáo dục khác nhau, nên nội dung cũng bao gồm những cap độ tương ứng.
Những nội dung của các cấp độ quan hệ chặt chẽ với nhau theo trình độ từ trên xuống cũng như từ đưới lên. Nội dung của cấp độ trên chứa đựng các nội dung của cấp độ dưới kế cận: nội dung của cấp độ dưới tông hợp lại thành nội dung của cấp trên kế cận. Trong chương trình học ở nhả trường. nội dung chuyên môn được trình bày thành nội dung các môn học, tức là lượng kiến thức cùng với kỹ năng và thái độ - tinh cảm chứa đựng trong mỗi bộ môn.
Phương pháp và té chức Yếu tổ cơ bản thứ ba trong quá trình giáo dục là một phức hợp gồm hai thành phan: phương pháp và tổ chức (method and organization) gắn bỏ chặt chẽ với nhau. Nói một cách đây đủ, yếu tế này là phương pháp và tổ chức giáo đục (hay day học). Phương pháp (method) là một thuật ngữ trừu tượng hàm chứa nhiều ý nghĩa tương tự và gan gũi nhau. Nghĩa chung nhất của phương pháp là cách thức (procedure) và quá trình (process) nhằm đạt được một mục tiêu.
Theo đó, phương pháp giáo dục là cách thức hoặc hệ thống kế hoạch được áp dụng để đạt được mục tiêu của quá trình giáo dục. Trong quá trình giáo dục, tổ chức có quan hệ mật thiết với phương pháp, nên nó gắn bó với phương pháp tạo thành một yếu tổ cơ ban. Đánh giá Đánh giá (evaluation), trong ý nghĩa chung nhất của nó, là sự xác định và phán xét vé giá trị của các sự vật hoặc hiện tượng của các sản phẩm vật chất hay tinh than, và của quá trình tạo ra các sản phẩm đó. Như vậy, đánh giá trong giáo dục là sự xác định và phán xét những giá trị mà người học đã đạt được theo các mục tiêu của quá trình giáo dục.
Định nghĩa này bao quát từ khái niệm hẹp nhất đến khái niệm rộng nhất của đánh giá giáo dục. Khái niệm đánh giá (evaluation) luôn có quan hệ mật thiết với khái niệm đo lường (measurement) và xếp hạng (grading). Mối quan hệ giữa các yếu tố cơ bản 1. Quan hệ giữa Mục tiêu với Nội dung Myc tiêu chỉ phối Nội dung * Chức năng của Mục tiểu gido duc Mối quan hệ giữa các yêu t6 cơ bản trong quá trình giáo dục do chức năng của mỗi yếu tô quy định.
Vì vậy, việc xem xét mối quan hệ đó phải xuất phát từ chức năng của từng yếu tố. Theo Taba (1962), Mục tiêu giáo duc có 4 chức năng là: 1. Định hướng chương trình giáo đục (Orientation of educational programs), 2. Hướng dẫn lựa chọn về chuyên môn (guiding selection of speciality), bao gồm nội dung, phương pháp, t6 chức và kinh nghiệm giáo dục.
Cung cấp tiêu điểm chung nhất quán (providing common and consistent focus) cho mọi hoạt động trong chương trình của nhà trường. Hướng dẫn đánh gid (guiding evaluation) quá trình giáo dục. © Mục tiêu sẽ định hướng cho Nội d bưyện wit Các chức năng Định hướng chương trình giáo dục va Hướng dẫn lựa chọn vé chuyên môn của mục tiêu giáo dục sẽ trực tiếp chỉ phối nội dung dạy học. Biểu hiện: Những định hưởng trong Tôn chỉ và Mục đích của quá trình giáo dục sẽ chỉ ra loại hình nào cần được thiết kế, và trong đó phải bao ham những nội dung kiến thức nao; Mục tiêu định hướng cho các nội dung đưa vao chương trình học, tức là lựa chọn va sắp xép các môn học trong chương trình.
® Mục tiêu hướng dẫn lựa chọn Nội dung môn học Các mục tiêu giáo duc ở cấp cơ sở sẽ cụ thé hoá mục dich theo hai nhóm song hành: một nhóm trình bày các mục tiêu rộng của nhà trường cho đến từng cấp lớp: nhóm kia là mục tiêu của các bộ môn, các khoá trình và các bài học đáp ứng các mục địch giáo dục theo lĩnh vực chuyên môn của mình. Chính các mục tiêu này sẽ quyết định việc lựa chọn các nội dung của môn học, khoá trình hay từng bài học. sự chỉ phối của mục tiêu giáo dục đối với nội dung được xuyên suốt qua mọi cấp độ của quá trình giáo đục, bao quát tất cả các lĩnh vực học van và đi sâu vào từng môn học, từng khoá trình và từng bài học. Nội dung tác động lại Mục tiêu « Chức năng của Nội dung chuyên môn Trong mọi quá trình giáo dục, nội dung đảm nhiệm 3 chức năng chính: 1.
Nội dung chuyên môn là một nguồn để lựa chọn mục tiêu (a source of objectives). Nội dung chuyên môn là phương tiện chủ yếu (main means) dé đạt các mục tiêu. Cung cấp dữ liệu (providing data) cho phương pháp và đánh giả. * Sư tác đông của Nội dung đối với Mục tiêu Chức năng (1) và (2) cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa nội dung với mục tiêu giáo dục.
Khi đã là một nguồn để lựa chọn mục tiêu, nội dung chuyên môn rồ ràng đã tác động trở lại, thậm chí chỉ phối mục tiêu giáo dục. Nội dung chuyên môn trong bat cứ lĩnh vực nào cũng vô cùng phong phú và không có giới hạn. Bat kể một phạm vi kiến thức nao trong một lĩnh vực nhất định cũng có thé tác động tích cực đến con người. Không ai có thể nói rằng một lĩnh vực kiến thức nào đó đã được khai thác hết để lựa chọn các mục tiêu giáo dục.
Vì vậy, trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó, một phạm vi kiến thức chưa được khai thác lại thể hiện rõ tác động tích cực của nó đối với con người, và do đỏ sẽ trở thành một nguồn để mở rộng mục tiêu, hoặc xác định một mục tiêu giáo dục mới. Hơn thế nữa, kho tàng kiến thức của nhân loại luôn luôn được bổ sung với nhịp độ ngày càng nhanh. Điều đó cũng có nghĩa là nguồn nội dung chuyên môn được dùng dé lựa chọn mục tiêu cũng luôn luôn tăng thêm và đổi mới. nội dung chuyên môn sẽ luôn luôn tác động trở lại và chí phối mục tiêu giáo dục.
Tóm lại, mỗi quan hệ giữa mục tiêu với nội dung là mối quan hệ tương tác hai chiều: mục tiêu chỉ phối nội dung, nội dung cũng tác động trở lại mục tiêu theo một con đường khác. Quan hệ giữa Mục tiêu với Phương pháp và tổ chức Mục tiêu chi phối Phương pháp và tô chức l3 © Mục tiêu định hướng cho loai hình tổ chức day | Mục tiêu (tức kết quả phải đạt) chỉ có thể thực hiện thông qua nội dung (dạy cái gì) cùng với phương pháp và tô chức (dạy như thế nào). Do đó, cả nội dung lẫn phương pháp và tổ chức đều được coi là các phương tiện dé thực hiện mục tiêu, gọi tắt là phương tiện mục tiêu (means — end). Triết lý giáo dục là khởi nguồn của các yếu tố cơ bản trong quá trình giáo dục [xem 10, tr27-79].
Theo trình tự xem xét ma Tyler (1950) đề xuất, triết lý được thé hiện trước hết ở mục tiêu. Do đó, mục tiêu giáo dục sẽ định hướng các yếu tố được coi là phương tiện của mình bằng triết lý mà nó đã tuân theo. Định hướng loại hình tổ chức dạy học đồng thời cũng là định hướng tô chức chương trình học. Theo định hướng của tôn chỉ và mục đích, các nhả giáo dục sẻ vạch ra cách tổ chức các nội dung kiến thức và phương pháp dạy học thích hợp đối với chương trình học ở nha trường.
Peters, các kiến thức vả kinh nghiệm khác nhau được định hướng vào chương trình học sé trở thành những đơn vị chương trình (curriculum units).