LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu là sự sắp xếp và mối quan hệ về mặt tỷ trọng giữa các mặt hàng, nhóm hàng trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của một quốc gia. Chính phủ các quốc gia luôn nỗ lực hƣớng đến một cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa phát huy đƣợc lợi thế so sánh, tác động tích cực đến thƣơng mại và đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Tốc độ đa dạng hóa xuất khẩu là một trong những chìa khóa cho tăng trƣởng kinh tế.
Cơ cấu hàng xuất khẩu thâm dụng tài nguyên ở các nƣớc đang phát triển còn có thể tác động đến kinh tế xã hội và thể chế chính trị của quốc gia đó (Isham, Wollcock, 2012). Việt Nam hiện đang xuất siêu sang các thị trƣờng Âu-Mỹ nhƣng lại nhập siêu mạnh từ các nƣớc châu Á nhƣ Trung Quốc, Hàn Quốc và ASEAN, trong đó nghiêm trọng nhất là với Trung Quốc. Nguyên nhân là do thị trƣờng Âu-Mỹ có nhu cầu rất lớn đối với hàng hóa thâm dụng lao động nhƣ dệt may, da giày, hoa quả và thủy hải sản nhƣng Việt Nam hầu nhƣ ít nhập khẩu từ những thị trƣờng này. Trong khi đó, do nhu cầu nhập khẩu nguyên phụ liệu và máy móc thiết bị công nghệ lớn, nhƣng chỉ xuất khẩu đƣợc nông lâm thủy sản thô và sơ chế giá trị thấp sang các thị trƣờng châu Á.
Số liệu thống kê của WTO, Liên hợp quốc và Tổng cục thống kê Việt Nam đều cho thấy nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc tăng nhanh ở mức báo động. Thâm hụt thƣơng mại với Trung Quốc ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là sau khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001. Năm 2001, nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc mới ở mức 787 triệu USD nhƣng con số này liên tục tăng mạnh và đến năm 2015 đã lên đến 43,7 tỷ USD, gấp hơn 55 lần so với năm 2001. Năm 2016, giá trị nhập siêu giảm mạnh còn gần 25 tỷ USD nhƣng giá trị nhập khẩu thực chất vẫn rất cao (61,6 tỷ USD).
Quy mô nhập siêu cao, kéo dài và không có dấu hiệu đƣợc cải thiện nhƣ của Việt Nam với Trung Quốc hiện nay là vấn đề đáng lo ngại vì nó phản ánh thƣơng mại Việt Nam đang phụ thuộc quá lớn vào thị trƣờng Trung Quốc. Việc thuộc quá mức vào một thị trƣờng xuất nhập khẩu là một yếu tố rủi ro không thể xem thƣờng. Nếu có biến động từ thị trƣờng Trung Quốc về nguyên phụ liệu đầu vào cho sản xuất thì việc làm và thu nhập của ngƣời lao động Việt Nam sẽ 5 gặp khó khăn lớn. Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu sẽ giảm sút, tác động tiêu cực đến cân đối thƣơng mại và thanh toán quốc tế nƣớc ta.
Nếu Trung Quốc có chính sách hạn chế nhập khẩu từ Việt Nam, lƣợng hàng hóa tồn đọng không xuất khẩu đƣợc cũng sẽ cũng gây thiệt hại rất lớn cho ngƣời sản xuất và doanh nghiệp Việt. Hơn nữa, phụ thuộc kinh tế tất yếu sẽ kéo theo phụ thuộc chính trị của Việt Nam vào Trung Quốc. Nhiều nghiên cứu gần đây nhƣ của MUTRAP (2009), Bùi Trinh, Nguyễn Văn Huân (2011), Tô Trung Thành, Nguyễn Trí Dũng (2012), Lƣơng Văn Khôi (2012) đều chỉ ra, nhập siêu của Việt Nam kéo dài bắt nguồn từ vấn đề cơ cấu. Nhƣ vậy có thể khẳng định, thâm hụt cán cân thƣơng mại Việt Nam-Trung Quốc có nguyên nhân chủ yếu là do cơ cấu hàng xuất nhập khẩu giữa hai nƣớc.
Nhƣ vậy, nếu vẫn tiếp tục duy trì cơ cấu xuất nhập khẩu với Trung Quốc nhƣ hiện nay, tình trạng nhập siêu của Việt Nam chắc chắn sẽ ngày càng nặng hơn nữa trong những năm tới. Ràng buộc từ các FTA mới ký kết cùng tác động mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0 trên toàn cầu buộc Việt Nam phải có sự điều chỉnh căn bản trong cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu nếu muốn bắt kịp với xu hƣớng phát triển của nền kinh tế thế giới. Bản thân ngƣởi tiêu dùng Trung Quốc cũng nhƣ Việt Nam cũng đang có sự thay đổi lớn trong nhu cầu và quan điểm tiêu dùng. Do Trung Quốc là đối tác thƣơng mại lớn nhất của Việt Nam hiện nay nên đổi mới đƣợc cơ cấu trao đổi hàng hóa với Trung Quốc cũng sẽ tạo ra đƣợc sự đổi mới căn bản trong cơ cấu thƣơng mai hàng hóa chung của Việt Nam.
Với những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình là “Đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu trong quan hệ thương mại với Trung Quốc nhằm hạn chế tình trạng nhập siêu”. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2.1 Tình hình nghiên cứu về tác động của cơ cấu xuất nhập khẩu đến tăng trưởng Nghiên cứu về tác động của cơ cấu xuất nhập khẩu đến tăng trưởng kinh tế nói chung: Cơ cấu định tính trong rổ hàng xuất khẩu và tác động của nó đối với tăng trƣởng kinh tế là một vấn đề đã đƣợc nghiên cứu bởi nhiều tác giả. Braford 6 (1987) phân tích để tìm ra bản chất và nguyên nhân những thay đổi trong cơ cấu kinh tế của các nƣớc châu Á-Thái Bình Dƣơng, quan hệ giữa những thay đổi này với tăng trƣởng kinh tế, tác động của những thay đổi đó đến các mối quan hệ thƣơng mại. Mayer, Wood (2001) kiểm tra các cơ cấu xuất khẩu của các nƣớc Nam Á thông qua lăng kính mô hình Heckscher-Ohlin và kết luận rằng các sản phẩm hàm lƣợng lao động cao bất thƣờng là kết quả của lực lƣợng lao động trình độ thấp.
Lederman, Maloney (2003) trong một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới, đã kết luận cơ cấu thƣơng mại là yếu tố quan trọng quyết định tốc độ tăng trƣởng của một quốc gia. Trong đó, nguồn lực sẵn có và thƣơng mại nội ngành ảnh hƣởng tích cực đến tăng trƣờng, tập trung xuất khẩu ảnh hƣởng tiêu cực đến tăng trƣởng. Rodrik (2006) kiểm tra chính xác hơn mối quan hệ giữa các chỉ tiêu về chất lƣợng cơ cấu xuất khẩu và tăng trƣởng GDP, tác giả chỉ ra những thay đổi về cấu trúc trong chất lƣợng của rổ hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc và báo cáo tăng trƣởng kinh tế giữa năm 1992 và 2003. Sử dụng chuỗi thời gian dài (1962-2000), Rodrik (2006) và Hausmann, Hwang, Rodrik (2005) ƣớc tính ảnh hƣởng của chất lƣợng hàng hóa xuất khẩu (hàm lƣợng công nghệ ) đối với tăng trƣởng GDP.
Sohn, Lee (2008) nghiên cứu mối quan hệ giữa thƣơng mại và tăng trƣởng dựa trên các biến "cơ cấu thƣơng mại". Nghiên cứu giới thiệu lại ba học thuyết giải thích mối quan hệ giữa thƣơng mại và tăng trƣởng là định lý Rybczynski; mô hình Sản phẩm khác biệt của Krugman và Helpmen; mô hình Tăng trƣởng nội sinh. Mỗi học thuyết đƣa ra một giải thích khác nhau về cách thức cấu trúc hàng hóa xuất nhập khẩu tác động đến năng suất hay tăng trƣởng của một nền kinh tế. Sự tăng thêm hàm lƣợng công nghệ của sản phẩm sẽ kéo theo sự tăng trƣởng kinh tế (Lall, 2005; Rodrik, 2006).
Nghiên cứu tác động của cơ cấu xuất nhập khẩu đến phát triển bền vững: Quan hệ giữa cơ cấu hàng xuất nhập khẩu với cán cân thƣơng mại thực chất phản ánh tác động của cơ cấu thƣơng mại hàng hóa đến tăng trƣởng kinh tế nói chung của một quốc gia. Một số nghiên cứu khẳng định việc nâng cấp cơ cấu xuất nhập khẩu quyết định đến sự phát triển bền vững của một quốc gia. Sự mở rộng xuất khẩu thiếu định hƣớng đúng đắn có nguy cơ làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, suy giảm đa dạng sinh học và ô nhiễm môi trƣờng (Kaulin, Freinkman, 2009; Hồ Trung Thanh, 2009, 2012; Halle, 2010; Lê Văn Hùng, 2010). Tăng trƣởng xuất khẩu nếu 7 chỉ chủ yếu dựa vào khai thác các nguồn lợi tự nhiên và sử dụng ngày càng nhiều các yếu tố đầu vào làm gia tăng áp lực gây ô nhiễm.
Cơ cấu nhập khẩu cũng đe dọa đến tăng trƣởng bền vững nếu tập trung vào công nghệ trung gian, hay hàng tiêu dùng xa xỉ…Do vậy, duy trì một cơ cấu xuất nhập khẩu phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế, đảm bảo phát triển bền vững là nhu cầu cấp thiết của mỗi quốc gia. Các tác giả tiếp cận theo hƣớng này tiêu biểu có Lê Danh Vĩnh, Hồ Trung Thanh (2012), Nguyễn Văn Nam (2012), Trần Công Sách (2012), Vũ Huyền Phƣơng (2014) v.2 Tình hình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu trên thế giới Nghiên cứu thực trạng chuyển dịch cơ cấu xuất nhập khẩu: Thực trạng đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu là vấn đề đƣợc nghiên cứu nhiều ở mọi quốc gia, thậm chí nhiều tổ chức thƣơng mại quốc tế cũng thực hiện hàng loạt các nghiên cứu quy mô liên quan đến vấn đề này. OECD là một trong những tổ chức có nhiều nghiên cứu quy mô liên quan đến cơ cấu thƣơng mại hàng hóa của các nƣớc đang phát triển. Chƣơng 3 thuộc nghiên cứu “Trade Liberalisation and Economic Performance: Latin America versus East Asia 1970-2006” qua trƣờng hợp một số quốc gia phát triển và đang phát triển cụ thể rút ra các yếu tố thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu (Duran, Mulder, 2008a).
Bên cạnh đó, loạt nghiên cứu về kinh nghiệm đổi mới cơ cấu thƣơng mại của bốn nƣớc Chile, Philippines, Thái Lan và Ecuador lựa chọn một số nhóm hàng tiêu biểu của mỗi nƣớc, nghiên cứu sự chuyển biến trong cơ cấu xuất nhập khẩu và rút ra kinh nghiệm liên quan đến kinh tế vĩ mô (Bartók, Onodera, 2007; Antonio, Onodera, 2007; Tangkitvanich, Onodera, 2007; Duran, Mulder, 2008b). Nghiên cứu về cơ cấu thƣơng mại hàng hóa trên quy mô toàn cầu cho thấy thƣơng mại quốc tế đang dần bị chi phối bởi những “đối tác chủ chốt“ (key player), sự kết nối ngày càng chặt chẽ giữa các đối tác thƣơng mại, sự phát triển của mạng lƣới sản xuất toàn cầu, sự đa dạng hóa của các nhà xuất khẩu hàng công nghệ cao và sự tƣơng đồng trong cơ cấu hàng xuất khẩu ngày càng tăng (Hummels, 2001; Zhi, 2003; OECD, 2005; Hausmann, Klinger, 2006). Các nghiên cứu cũng dự đoán trong 8 giai đoạn 2011-2020, thƣơng mại hàng hóa quốc tế sẽ tiếp tục chuyển dịch theo hƣớng tăng cƣờng thuê ngoài sản xuất (Outsourcing), sự phát triển mạnh của chuỗi cung ứng khu vực để cung cấp sản phẩm hoàn thiện cho các thị trƣờng đang tăng trƣởng nhanh (Ernst&Young, 2011; IMF, 2011; Meng, Fang, 2012; Johansson, Olaberría, 2014). Nghiên cứu giải pháp chuyển dịch cơ cấu xuất nhập khẩu: Tìm ra giải pháp đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu là áp lực chung của nhiều quốc gia trên thế giới để hƣớng đến nền kinh tế tăng trƣởng nhanh và ổn định.