Tổng quan luận án
Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu phản ánh sự sắp xếp và mối quan hệ về mặt tỷ trọng giữa các mặt hàng, nhóm hàng trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của một quốc gia. Thực tiễn thương mại Việt Nam cho thấy tình trạng xuất siêu sang các thị trường Âu - Mỹ nhưng lại nhập siêu lớn từ các thị trường châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc và khu vực ASEAN, trong đó quy mô lớn nhất là với Trung Quốc. Số liệu thống kê từ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Liên Hợp Quốc và Tổng cục Thống kê Việt Nam cho thấy nhập siêu từ Trung Quốc gia tăng nhanh sau khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001. Năm 2001, mức thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc ở mức 787 triệu USD; đến năm 2015, con số này đã tăng lên 43,7 tỷ USD, gấp hơn 55 lần so với năm 2001. Năm 2016, giá trị nhập siêu ghi nhận giảm còn gần 25 tỷ USD nhưng kim ngạch nhập khẩu vẫn ở mức cao (61,6 tỷ USD). Quy mô nhập siêu lớn và kéo dài phản ánh sự phụ thuộc đáng kể của nền kinh tế Việt Nam vào thị trường Trung Quốc, đặc biệt là nguồn nguyên phụ liệu đầu vào và máy móc thiết bị, tiềm ẩn rủi ro đối với sản xuất, việc làm và cán cân thanh toán quốc tế.
Nhiều nghiên cứu trước đây (MUTRAP, 2009; Bùi Trinh và Nguyễn Văn Huân, 2011; Tô Trung Thành và Nguyễn Trí Dũng, 2012; Lương Văn Khôi, 2012) đều xác định nguyên nhân cốt lõi của tình trạng thâm hụt thương mại kéo dài bắt nguồn từ vấn đề cơ cấu kinh tế và cơ cấu xuất nhập khẩu. Nếu tiếp tục duy trì cơ cấu trao đổi hàng hóa như hiện hành, tình trạng nhập siêu sẽ khó được cải thiện. Việc nghiên cứu đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu trong quan hệ thương mại với đối tác thương mại lớn nhất là Trung Quốc được xác định là cơ sở thực tiễn để giải quyết tình trạng nhập siêu song phương.
Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới cơ cấu xuất nhập khẩu, từ đó hạn chế tình trạng nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc trong dài hạn (đến năm 2030). Để đạt được mục đích này, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận, xác lập một khung lý thuyết hợp lý có thể giải thích cơ chế tác động của cơ cấu hàng xuất nhập khẩu đến cán cân thương mại song phương.
- Phân tích thực trạng nhập siêu hàng hóa của Việt Nam với Trung Quốc giai đoạn 2002-2016, thực trạng cơ cấu hàng xuất nhập khẩu Việt - Trung giai đoạn 2002-2016, và đánh giá tác động của cơ cấu này đến tình trạng nhập siêu giữa hai nước; chỉ ra nguyên nhân cho những hạn chế trong đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu Việt - Trung và phân tích thực trạng các thành tố tác động theo khung lý thuyết.
- Đưa ra hệ thống giải pháp đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu nhằm giảm nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc với ba chủ thể là Nhà nước, Doanh nghiệp và Nhà khoa học; các giải pháp cụ thể đều hướng đến mục tiêu cải thiện sáu thành tố tác động chung nêu trong khung lý thuyết.
- Nghiên cứu kinh nghiệm đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu để cải thiện cán cân thương mại với Trung Quốc của Malaysia và rút ra một số bài học cho Việt Nam.
Luận án đặt ra 5 câu hỏi nghiên cứu:
- Cơ chế tác động của cơ cấu hàng xuất nhập khẩu đến cán cân thương mại là gì?
- Thực trạng nhập siêu hàng hóa giữa Việt Nam với Trung Quốc giai đoạn 2002-2016 như thế nào?
- Thực trạng cơ cấu hàng xuất nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc giai đoạn 2002-2016 như thế nào?
- Đâu là những nhân tố tác động chung đến cán cân thương mại và cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc?
- Có thể áp dụng bài học kinh nghiệm nào của Malaysia trong việc đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu để giảm nhập siêu với Trung Quốc?
Đối tượng nghiên cứu của luận án gồm: (1) Cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa Việt - Trung giai đoạn 2002-2016; (2) Cán cân thương mại hàng hóa Việt - Trung giai đoạn 2002-2016; (3) Cán cân thương mại và cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa của Malaysia và Trung Quốc.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Phạm vi thời gian: Phân tích thực trạng giai đoạn 2002-2016 (sau khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001, Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 và ACFTA có hiệu lực). Các giải pháp đề xuất áp dụng cho giai đoạn 2018-2030, gắn với Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa của Chính phủ giai đoạn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Quyết định về Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ từ năm 2016 đến năm 2025.
- Phạm vi không gian: Quan hệ thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc (không bao gồm Hồng Kông và Đài Loan), kết hợp nghiên cứu trường hợp Malaysia.
- Phạm vi nội dung: Giới hạn trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, không bao gồm xuất nhập khẩu dịch vụ. Cơ cấu hàng hóa được phân tích theo hàm lượng chế biến, mục đích sử dụng, mức độ thâm dụng lao động, tài nguyên và công nghệ. Khung lý thuyết sử dụng mô hình Kim cương của Michael Porter để xác định các nhân tố tác động chung, không đi sâu so sánh năng lực cạnh tranh quốc gia toàn diện.
- Phạm vi số liệu: Sử dụng số liệu do cả Việt Nam và Trung Quốc công bố. Đối với thương mại song phương, tác giả ưu tiên số liệu của Hải quan Trung Quốc do phản ánh cả hoạt động thương mại tiểu ngạch (số liệu phía Trung Quốc công bố thường cao hơn số liệu phía Việt Nam trung bình trên 10%); trong trường hợp không có mới sử dụng số liệu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trước đây theo 7 nhóm nội dung chính:
-
Tác động của cơ cấu xuất nhập khẩu đến tăng trưởng kinh tế: Braford (1987) phân tích biến động cơ cấu kinh tế các nước châu Á - Thái Bình Dương; Mayer và Wood (2001) vận dụng mô hình Heckscher - Ohlin để phân tích cơ cấu xuất khẩu Nam Á gắn với trình độ lao động; Lederman và Maloney (2003) nghiên cứu tác động của nguồn lực sẵn có và thương mại nội ngành đến tăng trưởng; Rodrik (2006) cùng Hausmann, Hwang và Rodrik (2005) ước lượng tác động của chất lượng rổ hàng hóa xuất khẩu và hàm lượng công nghệ đến tăng trưởng GDP; Sohn và Lee (2008) phân tích mối quan hệ thương mại - tăng trưởng dựa trên định lý Rybczynski, mô hình Sản phẩm khác biệt của Krugman - Helpman và mô hình Tăng trưởng nội sinh; Lall (2005) khẳng định sự gia tăng hàm lượng công nghệ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
-
Tác động của cơ cấu xuất nhập khẩu đến phát triển bền vững: Nhóm tác giả Kaulin và Freinkman (2009), Hồ Trung Thanh (2009, 2012), Halle (2010), Lê Văn Hùng (2010), Lê Danh Vĩnh và Hồ Trung Thanh (2012), Nguyễn Văn Nam (2012), Trần Công Sách (2012), Vũ Huyền Phương (2014) chỉ ra rằng việc mở rộng xuất khẩu thâm dụng tài nguyên thô và nhập khẩu công nghệ lạc hậu sẽ làm suy giảm môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và cản trở tăng trưởng bền vững.
-
Chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu trên thế giới: Các nghiên cứu của OECD (2005), Duran và Mulder (2008a, 2008b), Bartók và Onodera (2007), Antonio và Onodera (2007), Tangkitvanich và Onodera (2007) phân tích kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu hàng hóa tại Chile, Philippines, Thái Lan và Ecuador. Về mạng lưới sản xuất toàn cầu và phân công lao động quốc tế, các công trình tiêu biểu gồm Hummels (2001), Zhi (2003), Hausmann và Klinger (2006), Ernst & Young (2011), IMF (2011), Meng và Fang (2012), Johansson và Olaberría (2014). Về giải pháp chuyển dịch, Mayer (2001) nhấn mạnh chính sách giáo dục; Xing và Xu (2013) phân tích vai trò của tỷ lệ tiết kiệm; Bhat (2011) nghiên cứu mô hình đặc khu kinh tế tại Ấn Độ; Freitas và Mamede (2011) phân tích vai trò của dòng vốn FDI.
-
Nâng cấp cơ cấu xuất nhập khẩu tại khu vực châu Á và các nước đang phát triển: Lardy (1992), Gaulier (2005, 2007), Athukorala và Hill (2008), Saunders (2008), Jongwanich và James (2009), Athukorala (2011), Wong và Li (2013) chỉ ra sự hình thành mạng lưới sản xuất linh phụ kiện điện - điện tử với vai trò trung tâm của Trung Quốc. Về tác động của Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA), các tác giả Thái Kiệt (2007), Yoeh và Ooi (2007), Phạm Thái Quốc (2010), Trần Văn Thọ (2005), Escaith và Inomata (2013) nhận định Trung Quốc có xu hướng hưởng lợi lớn hơn và duy trì thặng dư thương mại với ASEAN. Về thương mại Nam - Nam, Hellvin (2006), IMF (2008), Briones và Rakotoarisoa (2013) nêu rõ các nước đang phát triển chủ yếu cung cấp hàng sơ cấp và nhập khẩu hàng chế biến từ Trung Quốc.
-
Cơ cấu xuất nhập khẩu của Trung Quốc với các nhóm thị trường xuất siêu và nhập siêu: Nhóm nước xuất siêu sang Trung Quốc là các nước Đông Á có cơ cấu thương mại nội ngành phát triển trong ngành thiết bị điện và điện tử như Malaysia, Thái Lan, Philippines (Yean, 2001; Palanca, 2004; Woo, 2004; Devadason, 2009; Manarungsan, 2009; Chan và Lean, 2013). Ngược lại, nhóm nước nhập siêu chủ yếu xuất khẩu tài nguyên, lao động giản đơn và nhập khẩu máy móc, hàng tiêu dùng từ Trung Quốc, bao gồm các nước Mỹ Latinh, châu Phi và Hoa Kỳ (Kilpatrick, 2006; Casey, 2012; Cheung và Chinn, 2014; Morrison, 2015; Tokovenko và Koo, 2011).
-
Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam: Nghiên cứu tổng quát gồm Trần Ngọc Sơn (2005), Nguyễn Đình Cung (2011), Nguyễn Ngọc Anh và Tô Trung Thành (2013), Nguyễn Chiến Thắng và Trần Văn Hoàng (2015). Nghiên cứu theo đối tác có Phạm Minh Sơn và Chung (2008), Nguyễn Tiến Dũng (2014) về quan hệ với Hàn Quốc; Nguyễn Thị Minh Hương (2012) về quan hệ với Nhật Bản. Về quan hệ với Trung Quốc, Trần Văn Thọ (2005a, 2010), Tong và Seng (2009), Ernst & Young (2012) cảnh báo nguy cơ Việt Nam trở thành thị trường tiêu thụ hàng công nghiệp và xuất khẩu tài nguyên cho Trung Quốc.
-
Mối quan hệ giữa cơ cấu hàng xuất nhập khẩu và cán cân thương mại Việt - Trung: Gros (2013) phân tích trường hợp Thổ Nhĩ Kỳ để chứng minh cơ cấu hàng hóa công nghệ thấp làm xấu đi cán cân thương mại. Các nghiên cứu về cán cân thương mại Việt - Trung gồm Trần Văn Thọ (2000, 2005), Chaponniere và Cling (2009), Nguyễn Ngọc Bảo (2010), Bùi Thúy Vân (2011), Zhang (2012), Hạ Thị Thiều Dao (2010), Hà Thị Hương Lan (2012), Nguyễn Thành Biên (2008), Nguyễn Hoàng Giang (2008), Doãn Công Khánh (2007), Lê Tuấn Thanh (2008), Phan Kim Nga (2010), Nguyễn Thị Hiền (2010), Trần Đình Thiên và Nguyễn Chiến Thắng (2012). Các công trình ứng dụng phương pháp định lượng gồm Peter Naray (2009), Bùi Trinh và Nguyễn Văn Huân (2011) dùng mô hình cân đối liên ngành; Tô Trung Thành và Nguyễn Trí Dũng (2012) dùng mô hình SVAR; Lương Văn Khôi (2012) dùng mô hình CCR-I và BCC-I; Pham Ngoc Quang và Bui Trinh (2006) dùng bảng cân đối Vào - Ra (I-O); Ha Thi Hong Van và Do Tien Sam (2009); Từ Thúy Anh và cộng sự (2011, 2012) tính toán hệ số tỷ lệ thâm nhập.
Từ việc tổng quan tài liệu, tác giả xác định 3 khoảng trống nghiên cứu chính:
- Thứ nhất, thiếu khung lý thuyết giải thích cơ chế tác động trực tiếp của cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu đến cán cân thương mại song phương; phần lớn các nghiên cứu mặc định mối quan hệ này mang tính đương nhiên.
- Thứ hai, các nghiên cứu về giải pháp giảm nhập siêu từ Trung Quốc chủ yếu dừng lại ở định hướng chung (như tăng tỷ trọng chế biến, giảm xuất thô), chưa gắn với cung - cầu thực tế của thị trường Trung Quốc và các cam kết thương mại tự do cụ thể.
- Thứ ba, các đề xuất giải pháp trước đây chỉ tập trung vào hai chủ thể Nhà nước và Doanh nghiệp, bỏ qua vai trò của chủ thể Nhà khoa học trong quá trình đổi mới cơ cấu hàng hóa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án tiếp cận khái niệm đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu dựa trên định nghĩa về đổi mới sáng tạo của OECD (2005) gồm 4 loại hình: đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình, đổi mới tiếp thị và đổi mới tổ chức. Theo đó, tác giả đưa ra định nghĩa: "Đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu là một quá trình cải tiến cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa hiện thời để đảm bảo tính hiệu quả trong quan hệ thương mại với một hoặc nhiều nước đối tác và sự phát triển bền vững của một quốc gia". Quá trình này đòi hỏi sự thay đổi đáng kể về tỷ trọng giữa các nhóm hàng hóa, diễn ra đồng bộ qua việc nâng cấp hàm lượng công nghệ, quy trình sản xuất, phương thức xúc tiến thương mại và điều chỉnh chính sách vĩ mô.
Luận án xác lập khung phân tích bằng cách vận dụng mô hình Kim cương của Michael Porter (Porter, 1998) nhằm xác định 6 thành tố tác động chung đến cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu và cán cân thương mại song phương.
| STT |
Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu |
Thành tố tương ứng trong mô hình Kim cương |
| 1 |
Lợi thế so sánh quốc gia; khoảng cách địa lý |
Yếu tố sản xuất |
| 2 |
Mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế; chính sách thương mại; các FTA; chính sách thu hút FDI |
Chính phủ |
| 3 |
Chiến lược kinh doanh và nỗ lực của doanh nghiệp |
Doanh nghiệp |
| 4 |
Mức độ tham gia vào mạng lưới sản xuất khu vực/toàn cầu của doanh nghiệp |
Các ngành phụ trợ |
| 5 |
Sức mua và thị hiếu tiêu dùng của người dân |
Nhu cầu |
| 6 |
Năng lực sản xuất quốc gia; năng lực và mức đầu tư cho R&D |
Cơ hội |
Mô hình phân tích làm rõ cơ chế tác động của 6 thành tố:
- Chính phủ: Định hướng mô hình tăng trưởng, điều tiết chính sách thuế quan, cam kết FTA và thu hút FDI. Chính sách thương mại không phù hợp hoặc buông lỏng quản lý có thể dẫn đến phụ thuộc nhập khẩu và thâm hụt thương mại kéo dài.
- Yếu tố sản xuất: Gồm yếu tố cơ bản (tài nguyên, vị trí địa lý, lao động giản đơn) và yếu tố tiên tiến (hạ tầng kỹ thuật, lao động kỹ năng, công nghệ). Nếu xuất khẩu dựa vào yếu tố cơ bản hữu hạn, tỷ lệ nội địa hóa thấp, giá trị gia tăng ròng thu được không đủ bù đắp giá trị nhập khẩu.
- Nhu cầu: Quy mô dung lượng thị trường và thị hiếu chuộng hàng ngoại quyết định khối lượng nhập khẩu. Nếu người tiêu dùng nội địa chuộng hàng ngoại giá rẻ, sản xuất trong nước sẽ bị thu hẹp, làm gia tăng nhập siêu.
- Doanh nghiệp: Năng lực cạnh tranh và chiến lược kinh doanh thị trường quyết định khả năng thâm nhập thị trường đối tác. Doanh nghiệp yếu kém trong nghiên cứu thị trường sẽ khiến hàng xuất khẩu kém đa dạng và chịu sức ép cạnh tranh từ hàng nhập khẩu.
- Các ngành phụ trợ: Quyết định tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm xuất khẩu. Sự thiếu vắng ngành công nghiệp phụ trợ buộc doanh nghiệp phải nhập khẩu lượng lớn nguyên vật liệu, phụ tùng trung gian.
- Cơ hội: Khả năng nắm bắt cơ hội từ quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu, ứng dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao vị thế trong mạng lưới sản xuất.
Về chủ thể đổi mới, luận án xác định 3 chủ thể: Nhà nước (hoạch định thể chế, quy hoạch kinh tế, xúc tiến thương mại vĩ mô), Doanh nghiệp (doanh nghiệp sản xuất và thương mại; đổi mới công nghệ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, mở rộng thị trường) và Nhà khoa học (cung cấp nghiên cứu lý thuyết dự báo thị hiếu và nghiên cứu ứng dụng công nghệ, sáng chế phục vụ sản xuất).
Hệ thống đánh giá sự đổi mới cơ cấu xuất nhập khẩu dựa trên 2 tiêu chí lớn:
- Tính hiệu quả trong quan hệ thương mại song phương: Tận dụng lợi thế so sánh, tác động tích cực đến tổng kim ngạch và cán cân thương mại song phương, khai thác ưu đãi trong các hiệp định thương mại tự do.
- Khả năng đảm bảo phát triển bền vững quốc gia: Góp phần tăng trưởng kinh tế, không gây tổn hại đến môi trường sinh thái, đóng góp vào phát triển xã hội và tạo việc làm kỹ năng cao.
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp các kỹ thuật thu thập và phân tích dữ liệu cụ thể:
- Thống kê mô tả: Hệ thống hóa số liệu thương mại song phương thông qua các bảng phân loại quốc tế: Hệ thống mã hóa và mô tả hàng hóa (HS), Hệ thống phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu (SITC phiên bản 2 gồm 9 nhóm hàng), và Phân loại hàng hóa theo ngành kinh tế rộng (BEC gồm tư liệu sản xuất, hàng trung gian và hàng tiêu dùng). Về hàm lượng công nghệ, luận án tích hợp khung phân loại của Lall (2000), UNCTAD (2002) và OECD (2011).
- Phương pháp so sánh: So sánh chỉ tiêu kim ngạch, tỷ trọng theo thời gian giữa các nhóm hàng theo hàm lượng lao động, tài nguyên và công nghệ; so sánh thứ hạng năng lực đổi mới sáng tạo, chi tiêu R&D giữa Việt Nam, Trung Quốc và các nước ASEAN.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Tổng hợp thực trạng cơ cấu hàng hóa, đánh giá cơ chế tác động và phân tích bài học kinh nghiệm đổi mới cơ cấu xuất nhập khẩu của Malaysia với Trung Quốc.
- Phương pháp điều tra khảo sát: Tác giả tiến hành điều tra khảo sát bằng bảng câu hỏi đối với 200 doanh nghiệp xuất nhập khẩu có quan hệ thương mại với đối tác Trung Quốc trên toàn quốc. Thời gian khảo sát từ tháng 5/2015 đến tháng 5/2016 qua hình thức phát trực tiếp và gửi thư điện tử. Phiếu điều tra gồm 3 phần: (1) Thông tin chung của doanh nghiệp; (2) Tình hình xuất nhập khẩu (thị trường chủ lực, tỷ lệ nội địa hóa, chiến lược kinh doanh, khó khăn tiếp cận thị trường Trung Quốc, đăng ký thương hiệu); (3) Đánh giá chung (nhu cầu hiệp hội ngành hàng, thông tin FTA, quan điểm về biện pháp quản lý nhập khẩu).
Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ WTO, Ban Thư ký Liên Hợp Quốc (UN Comtrade), Tổng cục Thống kê Việt Nam, số liệu Hải quan Trung Quốc và các văn bản chỉ đạo của Chính phủ Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu nhằm hạn chế nhập siêu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu, bản chất của nhập siêu và cơ chế tác động của cơ cấu xuất nhập khẩu đến cán cân thương mại song phương. Luận án chỉ ra 4 nhóm nguyên nhân dẫn đến nhập siêu: (1) Nguyên nhân từ xuất khẩu (tăng trưởng xuất khẩu thấp hơn nhập khẩu, tỷ trọng hàng thô và sơ chế cao, tỷ lệ nội địa hóa thấp); (2) Nguyên nhân từ nhập khẩu (nhu cầu nhập máy móc thiết bị phục vụ dự án đầu tư nhưng hiệu quả không cao, tâm lý chuộng dùng hàng ngoại); (3) Nguyên nhân từ hội nhập kinh tế quốc tế (sức ép mở cửa thị trường khi tham gia các FTA); (4) Nguyên nhân từ tỷ giá hối đoái.
Khung lý thuyết của chương 1 thiết lập mối liên hệ giữa cơ cấu xuất nhập khẩu và cán cân thương mại thông qua 6 thành tố của mô hình Kim cương. Luận án phân tích kinh nghiệm thực tiễn của Malaysia trong quan hệ thương mại với Trung Quốc. Malaysia từng trải qua giai đoạn thâm hụt thương mại với Trung Quốc nhưng đã chuyển đổi thành công sang trạng thái xuất siêu. Quốc gia này tập trung phát triển ngành thiết bị điện và điện tử (E&E), chuyển từ thương mại liên ngành sang thương mại nội ngành, gia tăng hàm lượng công nghệ trong sản phẩm, đồng thời duy trì tỷ lệ chi tiêu cho R&D và số lượng bằng phát minh sáng chế ở mức cao trong khu vực Đông Nam Á. Từ trường hợp của Malaysia, luận án rút ra các bài học về chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ, định hướng thu hút FDI vào lĩnh vực công nghệ cao và nâng cao năng lực hấp thu công nghệ cho doanh nghiệp trong nước.
Chương 2: Thực trạng đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam nhằm hạn chế nhập siêu với Trung Quốc giai đoạn 2002-2016
Chương 2 phân tích diễn biến nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc qua hai giai đoạn: 2002-2010 và 2011-2016. Luận án chỉ ra xu hướng gia tăng liên tục của quy mô thâm hụt thương mại, đạt đỉnh 43,7 tỷ USD vào năm 2015, chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng nhập siêu của Việt Nam.
Về cơ cấu hàng hóa, tác giả phân tích cơ cấu theo mục đích sử dụng (BEC) và theo hàm lượng công nghệ (SITC/Lall) tại các mốc 2002, 2008 và 2016:
- Hàng xuất khẩu sang Trung Quốc tập trung chủ yếu ở nhóm hàng sơ cấp, nông lâm thủy sản và khoáng sản thô (dầu thô, than đá, cao su, sắn lát). Tỷ trọng hàng chế biến công nghệ cao có xu hướng tăng gần đây nhờ sự xuất hiện của khối FDI trong nhóm hàng điện tử (HS 85), nhưng giá trị gia tăng nội địa thu được không cao.
- Hàng nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm tỷ trọng lớn là tư liệu sản xuất và hàng trung gian phục vụ gia công. Nổi bật là nhóm máy móc, thiết bị công nghệ (phục vụ các dự án EPC) và nguyên phụ liệu cho ngành dệt may, da giày. Thị phần nguyên phụ liệu may mặc nhập khẩu từ Trung Quốc năm 2016 chiếm vị trí chi phối trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam.
Đánh giá theo hai tiêu chí đổi mới, luận án chỉ ra cơ cấu xuất nhập khẩu Việt - Trung giai đoạn 2002-2016 chưa đạt tính hiệu quả và chưa đảm bảo phát triển bền vững do xuất khẩu thâm dụng tài nguyên và phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu trung gian nhập khẩu từ Trung Quốc.
Phân tích thực trạng 6 thành tố của mô hình Kim cương phản ánh các hạn chế cụ thể:
- Yếu tố sản xuất: Lực lượng lao động chủ yếu là lao động giản đơn; hạ tầng kỹ thuật và năng lực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo năm 2017 xếp hạng thấp hơn đáng kể so với Trung Quốc.
- Chính phủ: Chính sách điều hành nhập khẩu chưa kiểm soát chặt chẽ tiêu chuẩn kỹ thuật; chính sách công nghiệp hỗ trợ triển khai chậm; chưa tận dụng tối đa các cam kết giảm thuế trong ACFTA để đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng có giá trị cao.
- Các ngành phụ trợ: Tỷ lệ nội địa hóa của các ngành công nghiệp chủ lực (dệt may, da giày, điện tử) ở mức thấp, dẫn đến việc phải nhập khẩu lớn phụ liệu từ Trung Quốc.
- Doanh nghiệp: Tỷ lệ chi cho R&D trên doanh thu của các doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2014-2017 ở mức rất thấp so với các nước Đông Nam Á. Kết quả khảo sát 200 doanh nghiệp cho thấy doanh nghiệp gặp khó khăn lớn về thiếu thông tin thị trường Trung Quốc, năng lực tài chính hạn chế, thương hiệu sản phẩm xuất khẩu chưa được đăng ký bảo hộ.
- Nhu cầu: Thị trường nội địa có quy mô tiêu dùng lớn đối với các mặt hàng máy móc, thiết bị và hàng tiêu dùng giá rẻ từ Trung Quốc.
- Cơ hội: Việt Nam chưa tận dụng tốt cơ hội chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và ưu đãi thuế quan từ các hiệp định thương mại.
Chương 3: Giải pháp đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu để giảm nhập siêu với Trung Quốc
Chương 3 dự báo bối cảnh quốc tế và khu vực giai đoạn 2018-2030, phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, RCEP) và Cách mạng công nghiệp 4.0. Luận án xác định phương hướng đổi mới tổng thể cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa Việt - Trung đến năm 2030, hướng đến mục tiêu cân bằng cán cân thương mại theo các mốc chiến lược của Chính phủ.
Luận án xác định danh mục hàng hóa chủ lực cần điều chỉnh:
- Đẩy mạnh xuất khẩu 5 nhóm hàng có tiềm năng sang Trung Quốc: Nông sản chế biến sâu; thủy hải sản chế biến; sản phẩm dệt may có giá trị gia tăng cao (chuyển đổi phương thức sản xuất); linh kiện, thiết bị điện và điện tử (nâng cao chuỗi giá trị); hàng thủ công mỹ nghệ và đồ gỗ.
- Hạn chế và giảm nhập khẩu 3 nhóm hàng từ Trung Quốc: Máy móc thiết bị và dây chuyền công nghệ lạc hậu (thắt chặt quản lý dự án tổng thầu EPC); nguyên phụ liệu trung gian thông qua việc tự chủ sản xuất công nghiệp phụ trợ trong nước; hàng tiêu dùng chất lượng thấp không thiết yếu.
Luận án xây dựng hệ thống giải pháp gắn với 3 chủ thể:
- Giải pháp từ chủ thể Nhà nước:
- Tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu; triển khai hiệu quả Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2016-2025.
- Hoàn thiện thể chế và hàng rào kỹ thuật: Xây dựng hệ thống quy chuẩn kỹ thuật (TBT), quy chuẩn kiểm dịch động thực vật (SPS) để ngăn chặn hàng hóa, thiết bị công nghệ lạc hậu, bảo vệ sản xuất nội địa.
- Đổi mới công tác xúc tiến thương mại: Đa dạng hóa các hoạt động xúc tiến ở cấp vĩ mô, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường các địa phương sâu trong nội địa Trung Quốc; tham gia tích cực Hội chợ Trung Quốc - ASEAN (CAEXPO).
- Nâng cao hiệu quả đầu tư công và quản lý đấu thầu các dự án EPC nhằm tránh phụ thuộc vào nhà thầu và thiết bị Trung Quốc.
- Giải pháp từ chủ thể Doanh nghiệp:
- Nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng sản phẩm: Áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế (GMP, HACCP, ISO, VietGAP) đối với nông sản, thủy sản để xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc.
- Chuyển dịch phương thức sản xuất: Ngành may mặc và điện tử cần chủ động chuyển dịch từ hình thức gia công thuần túy (OEM) sang tự thiết kế và sản xuất theo thương hiệu (ODM, OBM); liên kết ngang với các tập đoàn đa quốc gia để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
- Tăng cường nghiên cứu thị trường: Chủ động tìm hiểu văn hóa tiêu dùng và hệ thống phân phối lớn ở Trung Quốc, kết nối với mạng lưới các siêu thị bán lẻ tại Trung Quốc năm 2016 để phân phối hàng hóa trực tiếp.
- Giải pháp từ chủ thể Nhà khoa học:
- Tăng cường hoạt động nghiên cứu lý thuyết: Đi sâu dự báo xu hướng tiêu dùng, đặc điểm thị hiếu theo vùng miền của Trung Quốc nhằm cung cấp dữ liệu định hướng cho doanh nghiệp.
- Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng: Nghiên cứu cải tiến giống cây trồng, kỹ thuật bảo quản sau thu hoạch cho nông sản xuất khẩu; phát minh, sáng chế và chuyển giao công nghệ mới nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm công nghiệp trong nước; tham gia phản biện, thẩm định công nghệ nhập khẩu.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đóng góp các kết quả nghiên cứu mới về cả phương diện lý luận và thực tiễn:
Về lý luận:
- Ứng dụng mô hình Kim cương của Michael Porter để xác lập khung phân tích các nhân tố chung tác động đồng thời đến cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu và cán cân thương mại song phương, cung cấp cách tiếp cận có hệ thống cho bài toán giảm nhập siêu song phương.
- Đưa ra định nghĩa khoa học về "Đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu" dựa trên cơ sở lý thuyết đổi mới sáng tạo của OECD (2005), làm rõ nội hàm đổi mới sản phẩm, quy trình, tiếp thị và tổ chức trong thương mại hàng hóa.
- Xác định hệ thống 2 tiêu chí cụ thể để đánh giá sự đổi mới trong cơ cấu xuất nhập khẩu song phương: Tính hiệu quả trong quan hệ thương mại và Khả năng đảm bảo phát triển bền vững quốc gia.
- Xác định và bổ sung chủ thể Nhà khoa học vào mô hình các chủ thể tham gia quá trình đổi mới cơ cấu xuất nhập khẩu, bên cạnh hai chủ thể Nhà nước và Doanh nghiệp.
Về thực tiễn:
- Phân tích chi tiết thực trạng nhập siêu và cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc giai đoạn 2002-2016, phân định theo hai giai đoạn 2002-2010 và 2011-2016, làm rõ tỷ trọng thâm hụt song phương trong bức tranh ngoại thương tổng thể của Việt Nam.
- Đánh giá tác động của cơ cấu xuất nhập khẩu đến nhập siêu song phương dựa trên phân loại hàm lượng công nghệ và mục đích sử dụng hàng hóa, chỉ ra các điểm nghẽn về phụ thuộc nguyên liệu đầu vào và công nghệ.
- Cung cấp dữ liệu điều tra thực tế từ 200 doanh nghiệp xuất nhập khẩu với đối tác Trung Quốc, làm cơ sở thực chứng để đánh giá các khó khăn về thị trường, thương hiệu và nội địa hóa.
- Tổng kết bài học kinh nghiệm từ quá trình đổi mới cơ cấu hàng hóa của Malaysia với Trung Quốc để rút ra các hàm ý phù hợp với điều kiện Việt Nam.
- Xác định phương hướng đổi mới tổng thể đến năm 2030, đưa ra danh mục cụ thể gồm 5 nhóm hàng cần đẩy mạnh xuất khẩu và 3 nhóm hàng cần hạn chế nhập khẩu từ Trung Quốc.
- Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ gắn với ba chủ thể (Nhà nước, Doanh nghiệp, Nhà khoa học) nhằm tác động trực tiếp vào 6 thành tố của mô hình Kim cương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Nghiên cứu chỉ tập trung vào hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, chưa phân tích thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Trung Quốc.
- Việc áp dụng mô hình Kim cương của Michael Porter chỉ giới hạn ở việc nhận diện các nhân tố chung tác động đến cơ cấu hàng hóa và cán cân thương mại song phương, không đi sâu phân tích so sánh đối chiếu toàn diện lợi thế cạnh tranh quốc gia giữa hai nền kinh tế.
- Do tồn tại sự chênh lệch thống kê giữa hai quốc gia (trung bình trên 10%), luận án ưu tiên sử dụng nguồn số liệu do Hải quan Trung Quốc công bố để phản ánh luồng hàng tiểu ngạch; do đó các sai số phát sinh ngoài các nguồn dữ liệu chính thức này chưa thể bao quát tuyệt đối.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang cán cân thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Trung Quốc.
- Phân tích định lượng chi tiết hơn về mức độ tác động của từng hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA, RCEP) đối với việc chuyển dịch cơ cấu hàng hóa song phương với Trung Quốc.
- Nghiên cứu cơ chế liên kết cụ thể giữa khu vực FDI và doanh nghiệp nội địa nhằm gia tăng tỷ lệ nội địa hóa các nhóm hàng thay thế nhập khẩu từ Trung Quốc.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Kinh tế học, Kinh tế quốc tế và Thương mại quốc tế: Luận án cung cấp phương pháp tiếp cận mô hình Kim cương trong phân tích thương mại song phương, kỹ thuật tổng hợp số liệu theo HS, SITC, BEC và hệ thống tài liệu tổng quan.
- Cơ quan quản lý nhà nước và các nhà hoạch định chính sách thương mại (Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các đơn vị xúc tiến thương mại): Các phân tích thực trạng và giải pháp trong Chương 3 là cơ sở tham khảo cho việc xây dựng hàng rào kỹ thuật, điều hành chính sách công nghiệp hỗ trợ và chiến lược đàm phán thương mại với Trung Quốc.
- Doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các hiệp hội ngành hàng: Cung cấp thông tin thực trạng chuỗi cung ứng, hệ thống phân phối tại Trung Quốc, các tiêu chuẩn chất lượng (GMP, HACCP, ISO, VietGAP) và định hướng chuyển dịch mô hình sản xuất từ OEM sang ODM/OBM.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án ưu tiên sử dụng số liệu thống kê thương mại do phía Trung Quốc công bố thay vì số liệu của Việt Nam?
Từ năm 2009, số liệu thống kê thương mại do Trung Quốc báo cáo luôn cao hơn số liệu của Việt Nam trung bình trên 10%. Nguyên nhân là do phía Trung Quốc thống kê được cả kim ngạch xuất nhập khẩu tiểu ngạch và phản ánh hiện tượng nhập lậu giữa hai nước mà phía Việt Nam chưa thống kê đầy đủ. Để tăng mức độ chính xác khi đánh giá mức độ phụ thuộc thương mại và quy mô nhập siêu thực tế, tác giả lựa chọn số liệu do Trung Quốc công bố, khi không tìm được mới sử dụng số liệu của Việt Nam.
2. Nguyên nhân cốt lõi nào dẫn đến tình trạng nhập siêu kéo dài của Việt Nam với Trung Quốc giai đoạn 2002-2016?
Nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu: Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng sơ cấp, nông lâm thủy sản và tài nguyên thô có giá trị gia tăng thấp; trong khi nhu cầu nhập khẩu nguyên phụ liệu đầu vào (dệt may, da giày) và máy móc, thiết bị công nghệ (phục vụ các dự án đầu tư và lắp ráp) từ Trung Quốc rất lớn do ngành công nghiệp phụ trợ trong nước chưa phát triển và tỷ lệ nội địa hóa còn thấp.
3. Khung phân tích lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên mô hình nào?
Luận án ứng dụng mô hình Kim cương của Michael Porter (1998) làm khung lý thuyết phân tích. Tác giả chuyển đổi các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu hàng hóa và cán cân thương mại vào 6 thành tố của mô hình: Yếu tố sản xuất, Chính phủ, Doanh nghiệp, Các ngành phụ trợ, Nhu cầu và Cơ hội, qua đó xác định nguyên nhân chung và thiết kế giải pháp đồng bộ.
4. Điểm mới về các chủ thể thực hiện giải pháp trong luận án là gì?
Bên cạnh hai chủ thể truyền thống là Nhà nước và Doanh nghiệp, luận án xác định thêm chủ thể thứ ba là Nhà khoa học. Luận án chỉ ra rằng các nhà khoa học đóng vai trò quan trọng thông qua nghiên cứu lý thuyết (dự báo thị hiếu, văn hóa tiêu dùng vùng miền của Trung Quốc) và nghiên cứu ứng dụng (nghiên cứu sáng chế, chuyển giao công nghệ, thẩm định kỹ thuật công nghệ nhập khẩu) nhằm nâng cao giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu.
5. Hoạt động điều tra khảo sát doanh nghiệp của tác giả được tiến hành như thế nào?
Tác giả đã tiến hành khảo sát 200 doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu với đối tác Trung Quốc trên toàn quốc trong thời gian từ tháng 5/2015 đến tháng 5/2016 bằng hình thức phát phiếu trực tiếp và gửi qua email. Bảng câu hỏi thu thập dữ liệu về loại hình doanh nghiệp, tỷ lệ nội địa hóa, chiến lược kinh doanh, khó khăn khi tiếp cận thị trường Trung Quốc và các đánh giá về chính sách hỗ trợ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Nhật Thu đã làm rõ mối quan hệ giữa cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu và tình trạng thâm hụt thương mại kéo dài của Việt Nam với Trung Quốc giai đoạn 2002-2016 thông qua khung phân tích mô hình Kim cương. Công trình đã phân tích toàn diện thực trạng trao đổi thương mại song phương, thực hiện điều tra khảo sát 200 doanh nghiệp và đúc kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu hàng hóa từ Malaysia. Trên cơ sở đó, luận án xác lập phương hướng đổi mới cơ cấu hàng hóa đến năm 2030 và đề xuất hệ thống giải pháp phối hợp giữa ba chủ thể Nhà nước, Doanh nghiệp và Nhà khoa học nhằm hạn chế tình trạng nhập siêu, hướng tới cân bằng và phát triển bền vững quan hệ thương mại Việt - Trung.