Đổi Mới Chương Trình Môn Âm Nhạc - Vũ Đạo Cho Sinh Viên Trường Đại Học Thể Dục Thể Thao Bắc Ninh

Đổi mới chương trình môn âm nhạc vũ đạo tại trường đại học thể dục thể thao Bắc Ninh nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển năng lực sinh viên.

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

325
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Mục lục

Danh mục bảng, biểu đồ, hình

Danh mục bảng, biểu đồ

Danh mục các sơ đồ, hình ảnh, biểu đồ

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số quan điểm đổi mới Giáo dục đại học theo hướng hội nhập quốc tế tại Việt Nam và trên Thế giới

1.2. Khái quát về tồn tại, bất cập trong nền Giáo dục đại học Việt Nam

1.3. Quan điểm đổi mới, nâng cao chất lượng Giáo dục đại học của Đảng ta

1.4. Quan điểm đổi mới chương trình môn học hệ Đại học “theo nhu cầu xã hội”

1.5. Một số khái niệm cơ bản về đổi mới chương trình môn học hệ đại học

1.6. Một số công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến các vấn đề nghiên cứu của luận án

1.6.1. Nghiên cứu nước ngoài

1.6.2. Nghiên cứu trong nước

1.7. Đổi mới chương trình môn học hệ Đại học tiếp cận đào tạo học chế tín chỉ

1.8. Đổi mới chương trình môn học hệ Đại học tiếp cận mục tiêu môn học

1.9. Đổi mới chương trình môn học hệ Đại học tiếp cận nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học hiện đại

1.10. Đổi mới chương trình môn học hệ Đại học tiếp cận CDIO

1.10.1. Vài nét cơ bản về CDIO

1.10.2. Tiêu chuẩn CDIO

1.10.3. CDIO và chuẩn đầu ra

1.11. Khái quát môn học Âm nhạc vũ đạo tại Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

1.11.1. Vị trí môn Âm nhạc vũ đạo trong hệ thống chương trình đào tạo chuyên ngành Thể dục tại Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

1.11.2. Bộ phận cấu thành chương trình môn Âm nhạc vũ đạo

1.11.3. Một số khái niệm chương trình môn Âm nhạc vũ đạo

1.11.4. Âm nhạc trong chương trình môn Âm nhạc vũ đạo

1.11.5. Múa và biên đạo múa trong chương trình môn Âm nhạc vũ đạo

1.11.6. Khái quát nghệ thuật Múa

1.11.7. Biên đạo múa trong chương trình môn môn Âm nhạc vũ đạo

1.11.8. Khiêu vũ thể thao trong chương trình môn Âm nhạc vũ đạo

1.11.9. Đặc điểm loại hình Khiêu vũ thể thao trong chương trình môn Âm nhạc vũ đạo

1.11.10. Phân loại môn Khiêu vũ thể thao trong chương trình môn Âm nhạc vũ đạo

1.11.11. Sơ lược về chương trình môn Âm nhạc vũ đạo tại Việt Nam

1.12. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp nghiên cứu

2.1.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

2.1.2. Phương pháp phỏng vấn

2.1.3. Phương pháp chuyên gia Delphi

2.1.4. Phương pháp quan sát sư phạm

2.1.5. Phương pháp kiểm tra sư phạm

2.1.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

2.1.7. Phương pháp toán thống kê

2.2. Tổ chức nghiên cứu

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2.2. Phạm vi nghiên cứu

2.2.2.1. Khách thể nghiên cứu của luận án gồm:
2.2.2.2. Địa bàn điều tra khảo sát của luận án gồm:

2.2.3. Địa điểm nghiên cứu

2.2.4. Cơ quan phối hợp nghiên cứu

2.2.5. Kế hoạch và thời gian nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. Đánh giá thực trạng chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

3.1.1. Thực trạng phân phối thời lượng chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh giai đoạn 2006 - 2014

3.1.2. Đánh giá các điều kiện đảm bảo thực hiện chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

3.1.3. Thực trạng động cơ và nhận thức của sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh khi tham gia học tập môn học Âm nhạc vũ đạo, giai đoạn 2006 - 2014

3.1.4. Đánh giá điều kiện cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy, học tập chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

3.1.5. Thực trạng số đợt tập huấn nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ giáo viên tham gia giảng chương trình môn Âm nhạc vũ đạo tại Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh, giai đoạn 2006 - 2014

3.1.6. Nhu cầu sử dụng nội dung chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên các ngành học tại trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

3.2. Đánh giá thực trạng chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

3.2.1. Xác định căn cứ đánh giá chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho đối tượng nghiên cứu

3.2.2. Xác định nguyên tắc đánh giá chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

3.2.3. Lựa chọn nội dung bộ tiêu chuẩn đánh giá chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

3.2.4. Bản chất đánh giá chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh theo quan điểm tiếp cận CDIO(2+) của tác giả luận án

3.2.5. Lựa chọn các tiêu chuẩn đánh giá cấp I CTM ÂNVĐ cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh định hướng tiếp cận CDIO(2+)

3.2.6. Lựa chọn các tiêu chí cấp II đánh giá CTM ÂNVĐ Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh định hướng tiếp cận CDIO(2+)

3.2.7. Xác định các tiêu chí minh chứng cấp III “chí bảo” đánh giá chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh định hướng tiếp cận CDIO(2+)

3.2.8. Xác định công cụ đánh giá chương trình Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

3.2.9. Đánh giá thực trạng chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh trên các tiêu chuẩn đã lựa chọn

3.2.10. Thực trạng mục tiêu chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

3.3. Bàn luận kết quả nghiên cứu

3.4. Đổi mới chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

3.4.1. Xác định căn cứ đổi mới chương trình môn Âm nhạc vũ đạo

3.4.2. Đổi mới mục tiêu chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh chuẩn mô hình SMART theo hướng tiếp cận CDIO(2+)

3.4.3. Định hướng đổi mới mục tiêu chương trình môn Âm nhạc vũ đạo

3.4.4. Đổi mới chương trình môn Âm nhạc - Vũ đạo

3.4.5. Đổi mới CĐR của chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

3.4.6. Đổi mới nội dung chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh định hướng tiếp cận CDIO(2+)

3.4.7. Đổi mới tiêu chí thi và kiểm tra môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên theo hướng tiếp cận CDIO(2+)

3.4.8. Xây dựng CTM ÂNVĐ đổi mới

3.4.9. Đổi mới phương pháp dạy học môn học Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh theo hướng tiếp cận CDIO(2+)

3.4.10. Đổi mới điều kiện dạy học đáp ứng chương trình Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh theo hướng tiếp cận công nghệ thông tin

3.4.11. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học chương trình môn Âm nhạc vũ đạo

3.4.12. Đổi mới nguồn tài liệu tham khảo chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

3.5. Bàn luận kết quả nghiên cứu

3.6. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả chương trình môn Âm nhạc vũ đạo đổi mới cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

3.6.1. Xây dựng tiến trình thực nghiệm, tổ chức thực nghiệm

3.6.2. Xây dựng tiến trình thực nghiệm

3.6.3. Tổ chức thực nghiệm

3.6.4. Xác định tiêu chí đánh giá thực nghiệm

3.6.5. Kết quả thực nghiệm sư phạm

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Đổi Mới Chương Trình Âm Nhạc Vũ Đạo TDTT Bắc Ninh

Đại hội XI của Đảng xác định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhấn mạnh đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế. Trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Trường Đại học Thể dục Thể thao (TDTT) Bắc Ninh, một trường đầu ngành, đang từng bước xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật TDTT phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần. Mục tiêu là đáp ứng yêu cầu chuyên môn và có khả năng tiếp cận với thực tế lao động của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mỗi môn học, cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật TDTT đều phải đáp ứng yêu cầu này. Sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới tạo ra nhiều cơ hội và thách thức đối với sự nghiệp phát triển giáo dục, đào tạo.

1.1. Vị trí môn Âm nhạc và Vũ đạo trong đào tạo TDTT

Môn Âm nhạc và Vũ đạo (ÂNVĐ) đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển toàn diện cho sinh viên Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh. Nó không chỉ trang bị kiến thức về âm nhạcvũ đạo, mà còn góp phần nâng cao khả năng cảm thụ nghệ thuật, phát triển thể chất và kỹ năng biểu diễn. Môn học này giúp sinh viên có thêm công cụ để phục vụ cho công tác huấn luyện, giảng dạy và quản lý thể thao sau này. Chương trình đào tạo âm nhạc thể thao cần được thiết kế phù hợp với đặc thù của ngành TDTT.

1.2. Mục tiêu của đổi mới chương trình Âm nhạc Vũ đạo

Mục tiêu chính của việc đổi mới chương trình Âm nhạc - Vũ đạo là nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội và thị trường lao động. Cần tập trung vào việc cập nhật kiến thức, phương pháp giảng dạy hiện đại, tăng cường tính thực tiễn và ứng dụng của môn học. Đồng thời, cần chú trọng phát triển năng lực sáng tạo, khả năng làm việc nhóm và kỹ năng tự học cho sinh viên. Đổi mới giáo dục âm nhạc cần gắn liền với đổi mới giáo dục vũ đạo để tạo ra sự hài hòa và hiệu quả.

II. Thực Trạng Chương Trình Âm Nhạc Vũ Đạo Vấn Đề Giải Pháp

Môn Âm nhạc - Vũ đạo (ÂNVĐ) đã được đưa vào giảng dạy lần đầu tiên cho sinh viên Trường Đại học TDTT Bắc Ninh năm 2008. Sau 4 năm thử nghiệm, việc phát triển các kỹ năng trong môn học ÂNVĐ bao gồm cảm thụ và phân tích âm nhạc, kỹ năng thực hành múa và kỹ năng thực hành Khiêu vũ Thể thao (KVTT). Tuy nhiên, kỹ năng thực hành môn học KVTT đã không còn tác dụng nhiều tới sinh viên, điều này mâu thuẫn rất lớn tới yêu cầu thực tiễn bắt buộc của môn học và ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng đào tạo chung của môn học và Nhà trường. Hơn nữa chương trình học tập còn tồn tại nhiều bất cập như CTMH không tỷ lệ thuận với nhu cầu ham thích của môn học ÂNVĐ.

2.1. Bất cập trong chương trình Âm nhạc Vũ đạo hiện tại

Chương trình hiện tại còn tồn tại nhiều bất cập, như nội dung chưa thực sự phù hợp với nhu cầu của sinh viên, phương pháp giảng dạy còn nặng về lý thuyết, thiếu tính thực tiễn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy và học tập còn hạn chế. Đội ngũ giảng viên còn thiếu kinh nghiệm thực tế và chưa được cập nhật kiến thức mới thường xuyên. Đánh giá hiệu quả chương trình âm nhạcđánh giá hiệu quả chương trình vũ đạo cần được thực hiện một cách khách quan và toàn diện.

2.2. Nhu cầu đổi mới chương trình Âm nhạc Vũ đạo cấp thiết

Việc đổi mới chương trình Âm nhạc - Vũ đạo là một yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng nhu cầu của xã hội. Cần có sự thay đổi toàn diện từ mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy đến cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên. Nghiên cứu khoa học âm nhạc thể thaonghiên cứu khoa học vũ đạo thể thao cần được đẩy mạnh để cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đổi mới chương trình.

2.3. Đánh giá nhu cầu sử dụng chương trình Âm nhạc Vũ đạo

Cần đánh giá nhu cầu sử dụng nội dung chương trình môn Âm nhạc vũ đạo cho sinh viên các ngành học tại trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh. Điều này giúp xác định rõ những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho từng ngành, từ đó xây dựng chương trình đào tạo phù hợp và hiệu quả. Việc này cũng giúp sinh viên nhận thức rõ hơn về vai trò của âm nhạc và vũ đạo trong thể thao.

III. Phương Pháp Đổi Mới Chương Trình Âm Nhạc Vũ Đạo Hiệu Quả

Để đổi mới chương trình môn Âm nhạc - Vũ đạo (ÂNVĐ) một cách hiệu quả, cần xác định rõ căn cứ đổi mới, bao gồm mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức. Đổi mới mục tiêu chương trình môn ÂNVĐ cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh chuẩn mô hình SMART theo hướng tiếp cận CDIO(2+). Định hướng đổi mới mục tiêu chương trình môn ÂNVĐ. Đổi mới CĐR của chương trình môn ÂNVĐ cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh.

3.1. Áp dụng mô hình CDIO 2 trong đổi mới chương trình

Mô hình CDIO(2+) (Conceive - Design - Implement - Operate) là một phương pháp tiếp cận hiện đại, tập trung vào việc phát triển năng lực thực hành và khả năng giải quyết vấn đề cho sinh viên. Áp dụng mô hình này vào việc đổi mới chương trình Âm nhạc - Vũ đạo sẽ giúp sinh viên có được những kiến thức và kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. CDIOchuẩn đầu ra cần được xác định rõ ràng và cụ thể.

3.2. Đổi mới nội dung chương trình theo hướng thực tiễn

Nội dung chương trình cần được cập nhật và điều chỉnh để phù hợp với xu hướng phát triển của âm nhạc và vũ đạo hiện đại. Cần tăng cường tính thực tiễn, ứng dụng của môn học thông qua các hoạt động thực hành, dự án và bài tập tình huống. Đồng thời, cần chú trọng phát triển năng lực sáng tạo, khả năng làm việc nhóm và kỹ năng tự học cho sinh viên. Sáng tạo trong âm nhạc và vũ đạo cần được khuyến khích và phát huy.

3.3. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy

Ứng dụng công nghệ trong giảng dạy âm nhạcứng dụng công nghệ trong giảng dạy vũ đạo là một xu hướng tất yếu trong thời đại số. Sử dụng các phần mềm, ứng dụng và công cụ trực tuyến sẽ giúp tăng tính tương tác, sinh động và hấp dẫn cho bài giảng. Đồng thời, giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận và nắm bắt kiến thức. Cơ sở vật chất âm nhạc thể thaocơ sở vật chất vũ đạo thể thao cần được đầu tư và nâng cấp để đáp ứng yêu cầu của việc ứng dụng công nghệ.

IV. Ứng Dụng Thực Tế Đánh Giá Hiệu Quả Chương Trình Đổi Mới

Ứng dụng và đánh giá hiệu quả chương trình môn Âm nhạc vũ đạo đổi mới cho sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh. Xây dựng tiến trình thực nghiệm, tổ chức thực nghiệm. Xác định tiêu chí đánh giá thực nghiệm. Kết quả thực nghiệm sư phạm.

4.1. Xây dựng tiến trình thực nghiệm chương trình đổi mới

Cần xây dựng một tiến trình thực nghiệm chi tiết và cụ thể để đánh giá hiệu quả của chương trình đổi mới. Tiến trình này cần bao gồm các giai đoạn: chuẩn bị, thực hiện và đánh giá. Trong giai đoạn chuẩn bị, cần xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp và công cụ đánh giá. Trong giai đoạn thực hiện, cần tổ chức các hoạt động giảng dạy và học tập theo chương trình đổi mới. Trong giai đoạn đánh giá, cần thu thập và phân tích dữ liệu để đánh giá hiệu quả của chương trình. Tiến trình thực nghiệm cần được thiết kế khoa học và khách quan.

4.2. Tiêu chí đánh giá hiệu quả chương trình Âm nhạc Vũ đạo

Cần xác định rõ các tiêu chí đánh giá hiệu quả của chương trình, bao gồm: kiến thức, kỹ năng, thái độ và khả năng ứng dụng. Các tiêu chí này cần được đo lường một cách khách quan và chính xác. Đồng thời, cần có sự so sánh giữa kết quả của sinh viên học theo chương trình đổi mới và sinh viên học theo chương trình cũ để đánh giá mức độ cải thiện. Đánh giá hiệu quả chương trình âm nhạcđánh giá hiệu quả chương trình vũ đạo cần được thực hiện một cách toàn diện và đa chiều.

4.3. Kết quả thực nghiệm và bài học kinh nghiệm

Sau khi thực hiện thực nghiệm, cần phân tích và đánh giá kết quả để rút ra những bài học kinh nghiệm. Những bài học này sẽ giúp điều chỉnh và hoàn thiện chương trình đổi mới, đảm bảo tính hiệu quả và bền vững. Đồng thời, cần chia sẻ những kinh nghiệm này với các trường đại học khác để cùng nhau nâng cao chất lượng đào tạo. Hợp tác quốc tế âm nhạc thể thaohợp tác quốc tế vũ đạo thể thao cần được tăng cường để học hỏi kinh nghiệm từ các nước phát triển.

V. Kết Luận Hướng Phát Triển Chương Trình Âm Nhạc Vũ Đạo

Việc đổi mới chương trình Âm nhạc - Vũ đạo tại Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh là một quá trình liên tục và cần có sự tham gia của tất cả các bên liên quan. Cần có sự đầu tư về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và nguồn lực tài chính để đảm bảo sự thành công của chương trình. Đồng thời, cần có sự theo dõi, đánh giá và điều chỉnh thường xuyên để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu và đóng góp mới

Tóm tắt những kết quả chính đạt được trong quá trình nghiên cứu và đổi mới chương trình. Nêu bật những đóng góp mới của nghiên cứu, như phương pháp tiếp cận mới, nội dung cập nhật và công cụ đánh giá hiệu quả. Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển năng khiếu âm nhạc thể thaophát triển năng khiếu vũ đạo thể thao cho sinh viên.

5.2. Hướng phát triển chương trình Âm nhạc Vũ đạo trong tương lai

Đề xuất những hướng phát triển chương trình trong tương lai, như mở rộng phạm vi ứng dụng, tăng cường tính liên ngành và hội nhập quốc tế. Khuyến khích việc sáng tạo trong âm nhạc và vũ đạo và ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới vào giảng dạy và học tập. Xu hướng âm nhạc và vũ đạo hiện đại cần được cập nhật và đưa vào chương trình.

5.3. Kiến nghị và đề xuất để nâng cao chất lượng đào tạo

Đưa ra những kiến nghị và đề xuất cụ thể để nâng cao chất lượng đào tạo, như tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên và cải thiện cơ chế quản lý. Khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp và tổ chức xã hội vào quá trình đào tạo. Đội ngũ giảng viên âm nhạc thể thaođội ngũ giảng viên vũ đạo thể thao cần được bồi dưỡng và phát triển chuyên môn thường xuyên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

06/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số quan điểm đổi mới Giáo dục đại học theo hướng hội nhập quốc tế tại Việt Nam và trên Thế giới. Khái quát về tồn tại, bất cập trong nền Giáo dục đại học Việt Nam. Cùng với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam cần được đổi mới trên cơ sở vẫn giữ được những nét đặc thù của GDĐH trong nước, đồng thời tiếp cận được các chuẩn chung của thế giới [31], [33], [71], [104].

Ở nước ta hiện nay, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức về GDĐH [33], [71], nhưng qua các văn bản không chính thức, có thể hiểu GDĐH là hình thức tổ chức giáo dục cho các bậc học sau giai đoạn bậc phổ thông với các trình độ đào tạo: gồm trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ. Xét về mặt lịch sử, nền GDĐH đã xuất hiện ở nước ta cách đây trên cả nghìn năm. Cho đến nay, lịch sử GDĐH Việt Nam đã trải qua các nền giáo dục khác nhau: phong kiến, thuộc địa và chủ nghĩa thực dân mới (ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975). Sự nghiệp GDĐH từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã trải qua gần 70 năm và đạt được những thành tựu to lớn, trong đó quan trọng nhất là đã góp phần tạo ra các thế hệ nguồn lực con người Việt Nam, nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội [31, Tr5-6], [91].

Tuy nhiên, trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, nền giáo dục của nước ta ngày càng bộc lộ những bất cập và hạn chế. Về mục tiêu, trong một thời gian dài, do nhiều nguyên nhân khác nhau, chúng ta chưa chú trọng đúng mức đến việc đặt ra mục tiêu cho nền giáo dục của đất nước, trong đó có GDĐH. Thời gian gần đây, mục tiêu GDĐH ở nước ta có sự thay đổi, như việc xác định quan niệm, mục đích của GDĐH là đào tạo nhân tài (Luật Giáo dục Việt Nam năm 2012). Trong thực tế, các Trường đại học ở Việt Nam hiện nay, nhiều lắm cũng mới chỉ đủ khả năng trang bị cho người học (SV, học viên hay nghiên cứu sinh…) kiến thức cơ bản, trang bị khả năng phân tích độc lập, dám suy nghĩ và biết suy nghĩ (suy nghĩ có phương pháp - tư duy khoa học) [33], [71], [101].

Như vậy, rõ ràng là ngay cả khi chúng ta đổi mới mục tiêu GDĐH thì mục tiêu này cũng không phù hợp với khả năng, cũng như chất lượng thực tế của nền GDĐH trong nước. Về nội dung, mặc dù những năm qua đã có nhiều cố gắng đổi mới, cải cách nội dung giáo dục ở các cấp học theo hướng tiến bộ hơn, song nhìn chung so với một số nước trong khu vực và trên thế giới, nền giáo dục của nước ta vẫn còn lạc hậu, nhất là nội dung giáo dục ở bậc đại học. Trong một thời gian dài, những nội dung và chương trình giáo dục này khá phù hợp với nền giáo dục của nước ta và đã mang lại những thành tựu hết sức quan trọng. Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, nội dung chương trình GDĐH nước ta đang bộc lộ rất nhiều bất cập và hạn chế: Một là, nội dung kiến thức đào tạo còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa tạo được sự thống nhất gắn mục tiêu giáo dục với mục tiêu tìm kiếm việc làm đối với người học.

Hai là, chưa tạo được sự liên thông giữa các chuẩn mực GDĐH trong nước và quốc tế. Ba là, chương trình học còn nặng với thời lượng lớn. Một thống kê và so sánh cho thấy, thời gian học 04 năm ở một lớp đại học tại Việt Nam là 2138 giờ so với Mỹ là 1380 giờ. Như vậy chương trình học ở Việt Nam dài hơn 60% so với Mỹ [28], [31], [104], [105].

Về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học đại học, các trường đại học ở nước ta hiện nay nhìn chung chưa tiếp cận với các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học đại học phổ biến của thế giới. Mặc dù, những năm gần đây, theo chủ trương của Bộ GD&ĐT, nhiều trường đại học, cao đẳng trong cả nước đã bắt đầu áp dụng phương pháp giảng dạy cho SV theo phương thức tín chỉ, nhưng theo đánh giá của nhiều chuyên gia, “Đào tạo tín chỉ ở Việt Nam hiện chưa thực sự đúng với tinh thần của tín chỉ. Cách dạy, học vẫn còn chưa thoát khỏi tinh thần niên chế. Tính chủ động của SV còn yếu kém”.

Sự đổi mới về phương pháp giảng dạy trong các Trường đại học ở nước ta hiện nay nhiều khi chỉ mang tính hình thức [16], [24], [35], [63], [74]. Các thiết bị giảng dạy, như máy chiếu, video. chỉ là phương tiện hỗ trợ để nâng cao chất lượng giảng dạy, điều quan trọng hơn cả là sự nhận thức rằng giáo dục phải mang tính sáng tạo, tinh thần trách nhiệm thể hiện qua việc cải tiến về phương pháp và chương trình học vẫn chưa được chú trọng. Quan điểm đổi mới, nâng cao chất lượng Giáo dục đại học của Đảng ta.

Ngày 14-1-1993, Đảng ta ban hành Nghị quyết số 04- NQ/HNTW, “Về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo”. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Đảng ta, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có kỳ họp riêng bàn về một số vấn đề xã hội, trong đó tập Hình 1. 30 năm đổi mới sự nghiệp giáo dục trung xem xét sâu rộng vấn (Nguồn: UPNH-1/ussh.vn Đại học KHXH&NV) đề GD&ĐT và ra Nghị quyết về tiếp tục đổi mới sự nghiệp GD&ĐT [91]. Có thể nói, những quan điểm nói trên là những tư tưởng chỉ đạo rất quan trọng cho sự phát triển giáo dục nước ta trong những năm đầu trong thời kỳ đổi mới.

Đặc biệt, Nghị quyết đã nêu rõ tư tưởng mới hết sức quan trọng: đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Nhiều năm trước đây, đầu tư cho giáo dục được coi là đầu tư cho phúc lợi xã hội. Cùng với quá trình đổi mới đất nước nói chung, đổi mới nền giáo dục nước nhà, trong đó có GDĐH, luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Văn kiện Đại hội XI của Đảng khẳng định “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”[9].

Ngày 04-11-2013, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, nghị quyết cũng khẳng định đây không chỉ là quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước, mà còn là “mệnh lệnh” của cuộc sống [14], [15], [16]. Như vậy có thể nói, Văn kiện Đại hội XI của Đảng là văn kiện hết sức quan trong tiếp theo của Đảng ta nhằm tiếp tục đổi mới hơn nữa GDĐH Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay [14], [15], [16], [18]. Bởi lẽ: Thứ nhất, xây dựng triết lý giáo dục cho nền giáo dục nước nhà trong giai đoạn hiện nay, đồng thời mỗi trường đại học, mỗi cơ sở giáo dục cũng cần có triết lý giáo dục riêng phù hợp với tôn chỉ, mục đích và hướng tới hội nhập vào dòng chảy phát triển chung của giáo dục quốc tế. Thứ hai, việc đổi mới tư duy giáo dục hiện nay cần “gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; hệ thống giáo dục được chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và mang đậm bản sắc dân tộc.

Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ nội dung chương trình và phương pháp dạy học theo hướng hội nhập quốc tế. Nội dung chương trình và giáo trình cần được tổ chức xây dựng và triển khai theo hướng mở (cho phép cập nhật thường xuyên về kiến thức trong và ngoài nước, sử dụng giáo trình, học liệu trong nước hoặc ngoài nước một cách linh hoạt để giảng dạy cho người học), nội dung giảng dạy phải gắn chặt và phù hợp với yêu cầu thực tiễn của ngành nghề mà người học đang theo đuổi. Về phương pháp, cho phép sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học theo nguyên tắc “lấy người học là trung tâm”, giảm tải tối đa giờ giảng trên lớp để người học có thời gian tự học và tự nghiên cứu. Tất yếu cần thường xuyên thực hiện việc kiểm tra, đánh giá khách quan, chặt chẽ để bảo đảm tính hiệu quả của việc dạy và học.

Thứ tư, đổi mới vai trò của các cơ quan Quản lý TDTT nhà nước trong tổ chức GDĐH trong điều kiện hội nhập quốc tế. Cần tránh tư duy Quản lý TDTT theo cách áp đặt, hoặc “bao cấp” đối với các hoạt động GDĐH trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay. Thứ năm, tăng cường các hoạt động nghiên cứu và công bố quốc tế, tiến tới quốc tế hóa các tiêu chuẩn đánh giá khoa học và các hoạt động về chuyên môn tại các cơ sở GDĐH, đồng thời cần coi đây là giải pháp quan trọng để đưa GDĐH Việt Nam hội nhập sâu hơn vào môi trường quốc tế. Trong Văn kiện đại hội XII vừa qua, kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kỳ trước, Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề” [14 tr.

Có thể khẳng định: Một đất nước sẽ không thể phát triển nếu không có một nền giáo dục tiên tiến, chính vì vậy đổi mới GD&ĐT cần bắt đầu từ đổi mới quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động đào tạo của các cơ sở GD&ĐT và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Điều này không phải đến Đại hội XII, Đảng ta mới xác định như vậy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đổi Mới Chương Trình Âm Nhạc - Vũ Đạo Tại Trường Đại Học Thể Dục Thể Thao Bắc Ninh" trình bày những cải cách quan trọng trong chương trình giảng dạy âm nhạc và vũ đạo, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển toàn diện cho sinh viên. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tích hợp các phương pháp giảng dạy hiện đại, giúp sinh viên không chỉ nắm vững kiến thức lý thuyết mà còn phát triển kỹ năng thực hành. Những lợi ích mà tài liệu mang lại cho độc giả bao gồm cái nhìn sâu sắc về cách thức đổi mới giáo dục, cũng như những phương pháp giảng dạy hiệu quả có thể áp dụng trong môi trường học tập.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp giảng dạy và phát triển kỹ năng học tập, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn đánh giá thực trạng rối loạn giọng nói của nữ giáo viên tiểu học thành phố thái nguyên và hiệu quả một số biện pháp can thiệp, nơi cung cấp cái nhìn về hiệu quả của các biện pháp can thiệp trong giáo dục. Ngoài ra, tài liệu Luận văn dạy học theo hướng phát triển kỹ năng học tập hợp tác cho sinh viên đại học sư phạm sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc phát triển kỹ năng học tập hợp tác trong môi trường đại học. Cuối cùng, tài liệu Luận văn dạy học giải tích ở trường trung học phổ thông theo hướng tích cực cũng là một nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến phương pháp giảng dạy tích cực. Những liên kết này sẽ giúp bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan và mở rộng kiến thức của mình.